Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

Nếu Bắc Kinh Xuất Khẩu Đạn?

Kinh tế Trung Quốc, khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã giảm sút nặng ... (ảnh minh hoạ)
     Kinh tế Trung Quốc, khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã giảm sút nặng ... (ảnh minh hoạ)

Từ hai tháng qua, các thị trường tài chính quốc tế đều chứng kiến hiện tượng là khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã giảm sút nặng và tính đến Tháng Bảy vừa rồi thì chỉ còn khoảng ba ngàn 560 tỷ đô la. So với đỉnh cao vào Tháng Sáu năm ngoái thì sụt chừng 440 tỷ đô la. Một trong các nguyên nhân của sự kiện ấy là nạn tẩu tán tư bản, hay chuyển tài sản từ dạng nội tệ là đồng Nguyên qua ngoại tệ là đồng đô la Mỹ. Nhưng nếu lãnh đạo Bắc Kinh lại nhân trào lưu ấy mà có chủ đích tung dự trữ để đầu tư ra ngoài thì sao? Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu mặt trái của sự việc này qua phần trao đổi do Nguyên Lam thực hiện sau đây với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, trong chương trình phát thanh vào mùng hai vừa qua, ông nói đến sự kiện khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc, được ước lượng là tương đương với bốn ngàn tỷ đô la vào năm ngoái nay đã hao hụt và chỉ còn chừng ba ngàn 560 tỷ tính đến Tháng Bảy. Ông gọi đó là “kho đạn của Bắc Kinh đang cạn dần” trên trận tuyến kinh tế đối ngoại. Kỳ này, chúng tôi xin hỏi ngược rằng nếu Bắc Kinh cố tình tung ngoại tệ ra ngoài trong mục tiêu đầu tư và bành trướng ảnh hưởng thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là câu hỏi này rất hay vì cho ta thấy một kịch bản khác về kho dự trữ ngoại tệ như một kho đạn. Có thể gọi kịch bản ấy là “Bắc Kinh xuất khẩu đạn” để sẽ có ngày sử dụng sau này. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về những mục tiêu giả định và khả năng thực hiện kế hoạch này.

- Trước hết, ta nhớ là Trung Quốc học các nước Đông Á khi cải cách kinh tế, lấy đầu tư và xuất khẩu làm lực đẩy, rồi nhà nước thu về một lượng ngoại tệ rất lớn nhờ đạt xuất siêu, là xuất nhiều hơn nhập. Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới 15 năm trước, quả nhiên Bắc Kinh gom về một khối dự trữ rất cao, tính đến Tháng Sáu năm ngoái là lên tới gần bốn ngàn tỷ đô la. Trong số này, họ dùng gần một phần ba, khoảng một ngàn bốn trăm tỷ, để mua tài sản Mỹ, chủ yếu là Công khố phiếu Hoa Kỳ, là cho Mỹ vay tiền. Mà việc cho vay tiền có giảm phân lời đi vay và lãi suất tại Hoa Kỳ nên giúp Trung Quốc dễ xuất khẩu hơn. Một mục tiêu kia của việc cho vay tiền là yêu cầu về an toàn vì thị trường tín dụng Mỹ có đặc tính sâu và rộng hơn năm thị trường lớn nhất đi sau và có tính lưu hoạt cao, là dễ đổi ra tiền mặt đem về.

- Xin nói thêm về bối cảnh hay tương quan trao đổi thì thị trường tiêu thụ Mỹ chỉ có  12% là nhập khẩu mà nhập khẩu từ Trung Quốc chưa bằng gần 1% của Tổng sản lượng Hoa Kỳ trong khi lại là thị trường sinh tử cho kinh tế Trung Quốc. Thứ nữa, thế giới khi đó cứ nói đến việc Trung Quốc là chủ nợ số một của Mỹ mà quên rằng chủ nợ số hai với gần một ngàn ba trăm tỷ là Nhật Bản và nước Nhật không coi Hoa Kỳ là một đối thủ về chính trị. Bây giờ, ta mới bước qua chuyện chính trị ấy.

Nguyên Lam: Trước khi nói đến tương quan chính trị như ông vừa nhắc thì chúng ta thấy một tương quan kinh tế khá bất ngờ. Đó là kinh tế Trung Quốc lại cần thị trường Hoa Kỳ hơn là ngược lại, và sau khi đạt xuất siêu thì cũng đẩy tiền qua cho Mỹ vay thì để dễ bán hàng vào Mỹ! Thưa ông có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là đúng vậy nhưng tình trạng ấy đã hết sau vụ khủng hoảng tài chính và Tổng suy trầm 2008-2009. Hoa Kỳ giảm nhập khẩu và xuất siêu của Trung Quốc hết tăng. Trong khi ấy, Ngân hàng Trung ương Mỹ lại cắt lãi suất tới gần số không rồi ban hành biện pháp bơm tiền gọi là “tăng mức lưu hoạt có định lượng” hay “quantitative easing” khiến tiền rẻ và nhiều mới tràn ngập các thị trường. Trước sự kiện xuất khẩu vào Mỹ thì giảm mà đô la Mỹ lại rẻ, doanh nghiệp Trung Quốc bèn đi vay bằng đô la. Thực tế thì nhiều quốc gia cũng có động thái tương tự nên tổng cộng các nước đã mắc nợ thêm khoảng chín ngàn tỷ đô la, là một con số không nhỏ.

- Nhưng kinh tế Mỹ đã tạm phục hồi dù chưa mạnh nên từ năm kia, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ thông báo là giảm dần và chấm dứt việc bơm tiền rồi sẽ có lúc tăng lãi suất để trở về trạng thái bình thường nên từ năm ngoái, đồng Mỹ kim vọt lên giá. Khi đô la lên giá, và sẽ còn lên nếu lãi suất ngắn hạn được nâng khỏi số không, thì các quốc gia hay doanh nghiệp mà vay vào bằng đô la bị gánh nợ cao và đắt hơn. Vì vậy, yêu cầu trả nợ khiến các doanh nghiệp Trung Quốc cần nhiều đô la hơn. Đã thế, vì đoán trước là đô la còn lên giá so với các đồng bạc khác, kể cả đồng Nguyên, giới đầu tư hay các doanh nghiệp và đại gia có tiền bèn nghĩ đến việc bán ra đồng Nguyên để mua vào đô la trước khi tiền Mỹ lên giá.

- Ngần ấy yếu tố mới dẫn đến chuyện đồng Nguyên bị sức ép khiến Bắc Kinh phá giá vào tháng trước rồi dùng khối dự trữ bán ra đồng Nguyên để mua vào đô la nhằm thanh toán nợ nần. Dự trữ ngoại tệ vì vậy bị hao hụt cả trăm tỷ trong có một tháng. Đó là chuyện kho đạn của Bắc Kinh bị bào mỏng.

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, cho dù Bắc Kinh đã mất vài trăm tỷ và sẽ mất thêm thì phần còn lại của khối dự trữ đó cũng có thể là các khoản đầu tư ra ngoài. Huống hồ, như ông vừa phân tích, giới đầu tư hay các doanh nghiệp và đại gia có tiền của họ đều đã đoán trước rằng tiền Mỹ sẽ tăng nên mới bán ra đồng Nguyên để mua trước đô la. Như vậy thì mình có thể nói rằng việc tẩu tán tài sản ấy cũng mang ý nghĩa tích cực là đầu tư ra ngoài được không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là chẳng những lãnh đạo Bắc Kinh có mơ điều ấy mà còn nhắm vào nhiều mục tiêu sâu xa hơn. Nhưng họ có thành công hay không lại là chuyện khác.

- Trong trung hạn, theo quy ước chung là từ hai đến năm năm, thì các dự án xây dựng Con Đường Tơ Lụa trên đất liền và ngoài biển hoặc việc thành lập định chế tài chính như Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á Châu AIIB hay Tân Ngân hàng Phát triển của nhóm BRICS đều là loại đầu tư để bành trướng ảnh hưởng kinh tế và chiến lược của Trung Quốc. Bắc Kinh có thể đã dự trù 900 tỷ đô la cho giấc mơ đầu tư ấy và tin là kế hoạch lớn lao này sẽ nâng mức xuất khẩu của các tập đoàn kinh tế nhà nước Trung Quốc về thiết bị hay công nghệ, mà lại còn có lời lớn nếu đầu tư bằng đô la. Lý do là tiền Mỹ càng lên giá thì đồng bạc của các nước đối tác kia càng mất giá và chủ đầu tư là Trung Quốc sẽ thêm lợi.

- Trong dài hạn thì mối lợi ấy còn tăng gấp bội nếu Trung Quốc yêu cầu các nước đối tác thanh toán việc đầu tư hay đi vay bằng đồng Nguyên. Đấy là một cách đưa đồng bạc của họ vào thị trường quốc tế để sẽ thành một ngoại tệ giao hoán phổ biến trong toàn vùng Châu Á. Từ đó, Bắc Kinh tin rằng các nước kia sẽ dùng đồng Nguyên như một ngoại tệ dự trữ.

Nguyên Lam: Tức là Bắc Kinh vẫn có giấc mộng đưa đồng bạc của mình vào hàng ngoại tệ dự trữ sau này? Phải chăng là để cạnh tranh rồi sẽ có ngày thay thế đồng đô la Mỹ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh thường có tham vọng lớn và có cái nhìn trường kỳ như vậy.

- Chúng ta nên trở lại chuyện vừa nói ở trên là quan hệ kinh tế Mỹ-Hoa chỉ là sự lệ thuộc của toa tấu Trung Quốc vào đầu máy Hoa Kỳ nên họ có nỗ lực ta nên gọi là “thoát Mỹ” chứ không thể tiếp tục cho đối thủ vay tiền để dễ mua hàng của mình. Thứ hai, họ tung tiền đầu tư ra ngoài mà lại đầu tư bằng Mỹ kim để chiếm lợi thế khi đô la lên giá. Thứ ba, họ có thể đòi các nước thanh toán bằng đồng Nguyên để xứ nào cũng ghim sẵn đồng bạc Trung Quốc trong kho. Nếu sau này, hay vào năm tới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF mà cho phép đồng Nguyên là một ngoại tệ trong cái giỏ dự trữ có đồng Mỹ kim, đồng Euro, đồng Bảng của Anh và đồng Yen của Nhât, thì sẽ càng củng cố tư thế quốc tế của đồng bạc Trung Quốc.

Nguyên Lam: Đấy có thể là giấc mơ của Bắc Kinh, nhưng thưa ông liệu họ có thành công được chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là ai chẳng mơ chuyện cung trăng, huống hồ lãnh đạo Bắc Kinh! Họ muốn quốc tế hóa đồng Nguyên và kiểm soát được lưu lượng đầu tư ra ngoài lẫn cả luồng đầu tư của nước ngoài vào Hoa lục. Nhưng thực tế thì họ gặp nhiều rủi ro lắm.

- Trước hết trong cái đà họ gọi là chủ động đầu tư ra ngoài thì vẫn có hiện tượng tẩu tán tài sản, chuyển ngân lậu và cả cái nạn rửa tiền cho các đại gia. Chẳng vậy mà nhiều ngân hàng ma bị Bộ Công an đóng cửa vì tội đã rửa hơn 60 tỷ đô la ở nước ngoài chứ không ít. Ta không quên trường hợp tương tự là khi Liên Xô cho đảng viên cán bộ đem tiền ra ngoài để bành trướng ảnh hưởng thì đồng tiền ấy không trở lại sau khi chế độ tan rã.

- Thứ hai, Chủ tịch Tập Cận Bình có thể mơ ngày đánh bạt ảnh hưởng của đống Mỹ kim bằng một đồng Nguyên được quốc tế hóa, nhưng việc một đồng bạc mà trở thành ngoại tệ giao hoán và dự trữ đòi hỏi nhiều biện pháp cải cách không dễ thực hiện. Một cách cụ thể, khi đồng bạc được thả nổi theo quy luật cung cầu thì cũng có nhiều thành phần bị thiệt hại. Họ không thiết tha với giấc mơ tốn kém của Tập Cận Bình nên tìm cách ngăn cản. Cho nên bên trong hệ thống lãnh đạo chìm và nổi đã có tranh luận và cả thanh trừng dưới danh nghĩa đả hổ diệt ruồi để trừ tham nhũng.

Nguyên Lam: Trong khi ấy, dường như kinh tế Trung Quốc lại bị suy trầm và khi cải cách để chuyển hướng thì càng khó giữ được đà tăng trưởng ngày xưa. Thưa ông, đấy có phải là một rủi ro phụ trội không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nhớ đến lời phát biểu của tỷ phú Warren Buffet, một nhà đầu tư xuất chúng của Hoa Kỳ, đại để là khi thủy triều rút trên bãi biển thì mình mới biết là ai không bận quần! Khi kinh tế suy trầm thì việc chuyển từ chiến lược lỗi thời sang một hướng khác mới làm các vấn đề tiềm ẩn bên dưới bùng phát lên trên.

- Mà lãnh đạo Trung Quốc lại đang ở vào thời điểm rất nhạy cảm về chính trị. Sau chuyến thăm viếng Hoa Kỳ tuần này, qua tháng 10, Chủ tịch Tập Cận Bình phải chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ 5 của khóa 18 để thông qua Kế hoạch Năm năm thứ 13, từ 2016 tới 2020. Chẳng những Trung Quốc đang đi vào bước ngoặt mà bản thân và uy tín của họ Tập cũng gặp vấn đề, và thậm chí bị thách đố, sau mấy tháng lụp chụp về chính sách trên thị trường cổ phiếu rồi thị trường ngoại hối.

- Tuần qua, khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ chưa tăng lãi suất vào ngày Thứ Năm 17 thì Bắc Kinh đỡ bị sức ép trên đồng Nguyên nhưng chẳng vì vậy mà đã ra khỏi những khó khăn triền miên. Vì thế, cả kế hoạch gọi là dùng kho đạn là ngoại tệ dự trữ để chủ động đầu tư ra ngoài như một hình thái xuất khẩu đạn trong thế đối đầu với Hoa Kỳ có khi chỉ là ảo vọng.

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn kỳ này.

Nguyên Lam

(RFA)

Ngô Nhân Dụng - Tập Cận Bình đến Mỹ vì kinh tế

xi-jin-ping-7418-1442978288.jpg
                Chủ tịch Trung Quốc - Tập Cận Bình và phu nhân đã tới Mỹ hôm qua. Ảnh: AFP

Tập Cận Bình và Barack Obama sẽ bàn rất nhiều vấn đề xung khắc giữa hai nước. Có thể đoán trước có ba loại vấn đề. Một là những vấn đề họ sẽ nói rất mạnh mẽ, nhưng không làm gì được cả, phải để đó chờ giải quyết sau. Hai là những vấn đề họ sẽ nói nhẹ nhàng, kín đáo, nhưng kèm theo các hành động ráo riết. Và sau cùng là những vấn đề họ sẽ nói nhiều mà cũng sẽ làm nhiều.

Ðứng đầu sổ nói nhiều và làm nhiều là chuyện kinh tế, mối quan tâm lớn nhất hiện giờ của Tập Cận Bình. Mà nói chuyện kinh tế trong lúc này, ai cũng biết, Bắc Kinh đang ở thế rất yếu - sau một lần phá giá tiền tệ một cách lúng túng vụng về và hai lần thị trường chứng khoán suy sụp mà chính quyền cố vực lên không được. Tập Cận Bình không thể chỉ nói chuyện kinh tế với các đại biểu Quốc Hội và tổng thống Mỹ, mà phải thuyết phục các nhà tư bản thật sự.

Những người đầu tiên Tập Cận Bình sẽ gặp khi tới Seattle ngày hôm qua là dân làm ăn lớn nhất nước Mỹ: chủ tịch các công ty Microsoft, Boeing, Starbucks, IBM và DuPont, thêm Bill và Melinda Gates. (Henry Kissinger thì “tuần chay nào cũng có nước mắt,” để làm chứng rằng quan hệ Mỹ-Hoa từ 1970 đến nay chỉ có tiến tới, không thể giật lùi)! Ngày Thứ Tư một số người đứng đầu các công ty lớn hai nước sẽ gặp nhau, phía Trung Quốc có Jack Ma, chủ tịch sáng lập Alibaba, một bản sao của Amazon, eBay và Paypal nhưng số thu lớn hơn các công ty đó và Facebook, Google cộng lại, nhờ có hơn một tỷ dân Trung Hoa là khách hàng.

Nhiều vấn đề hai bên sẽ nói lớn tiếng nhưng sẽ không thể làm gì cả, vì rắc rối quá. Trong đó có chuyện nhân quyền (Pháp Luân Công đã biểu tình ngay trong giờ đầu), vấn đề Ðài Loan, Nhật Bản, và đặc biệt là an ninh ở vùng Biển Ðông nước ta. Ðại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, Max Baucus nói trước với các nhà báo rằng các vấn đề về Biển Ðông rất đáng quan tâm nhưng chưa thể giải quyết gì trong cuộc gặp gỡ Obama, Tập Cận Bình năm nay.

Một vấn đề sẽ không được nói nhiều trước công chúng, nhưng sẽ đưa tới các chương trình hành động là các vụ “tập kích tin học.” Ðại Sứ Baucus coi đây là một vấn đề ưu tiên hàng đầu trong bang giao giữa hai nước. Từ nhiều năm qua, Mỹ đã tố cáo “tin tặc” của Bắc Kinh ăn trộm các dữ kiện tin học của chính phủ và các công ty Mỹ; nhưng năm nay họ tiến một bước mạnh hơn: Ðe dọa trả đũa. Chính phủ Mỹ không thể trả đũa bằng cách “cũng đi ăn trộm;” vì bị Quốc Hội cấm, cho nên phải dùng món võ phong tỏa. Ông Baucus nói thẳng rằng sau khi Mỹ dọa phong tỏa kinh tế, Trung Cộng mới chịu ngồi xuống nói chuyện, thay vì cứ chối quanh chối quẩn như trước. Người Mỹ biết rằng ông Tôn Tử là người Tàu, ông ấy dạy rằng trong chiến tranh, “biết mình biết người, trăm trận trăm thắng. Nhưng vấn đề an ninh tin học ở đây không phải chỉ là chuyện gián điệp mà còn mối lo phá hoại. Thử tượng tượng hai quốc gia lâm chiến mà cả hệ thống thông tin một nước bị bên địch phá cho tê liệt, thì chỉ có cách kéo cờ trắng. Vì vậy Tập Cận Bình sẽ phải chịu cho Barack Obama đặt một số điều kiện để bảo đảm bọn “tin tặc” Trung Cộng không thể tiếp tục tấn công nước Mỹ như trước. Những điều kiện này sẽ được giữ kín, ít nhất để giữ thể diện cho Bắc Kinh. Sẽ chỉ được nhắc sơ qua trong thông cáo chung, nhưng sẽ có các hành động cụ thể.

Bên cạnh những vấn đề “Nói to làm nhỏ” như nhân quyền hay an ninh ở Biển Ðông; và các vấn đề “Nói ít làm nhiều” như an ninh tin học; thì trong các vấn đề kinh tế, cả hai chính quyền tha hồ nói và làm công khai. Không ai cần “giữ thể diện” nữa. Bởi vì Trung Cộng rõ ràng đang ở thế yếu.

Một sự kiện nóng hổi ông Tập Cận Bình không thể nào quên, là Thứ Sáu tuần trước, Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (Fed) đã công bố quyết định không tăng lãi suất. Như đã trình bày trong mục này, cả thế giới chờ đợi nghe quyết định của bà Janet Yellen, chủ tịch Fed. Ðiều khiến ông Tập Cận Bình không thể nào quên là trong tuần qua bà Yellen lại nêu tên nước Trung Hoa khi giải thích quyết định của Fed! Nói theo lối các quản giáo, “Bà có ý đồ gì vậy”

Ba tháng trước, bà Janet Yellen đã báo trước đến lúc sắp tăng lãi suất, vì kinh tế Mỹ đã gia tăng đều đặn từ sáu năm qua. Cứ tiến chậm và chắc như vậy, lương bổng sẽ tăng, lạm phát sẽ lên cao. Tăng lãi suất là một cách ngăn chặn lạm phát. Cả thế giới chờ Mỹ tăng lãi suất, trước khi chứng khoán bên Tàu suy sụp. Trong phiên họp tuần trước, hội đồng tiền tệ của Fed quyết định không tăng lãi suất, dù chỉ tăng từ .25% lên .35%! Bà Yellen có bổn phận giải thích lý do với công chúng. Lý do chính, bà nói, là kinh tế Trung Quốc đang yếu. Kinh tế Trung Quốc và các nước đang mở mang đều yếu, nên mối lo lạm phát ở Mỹ cũng giảm bớt, Fed không cần tăng lãi suất ngay bây giờ!

Khi kinh tế Trung Quốc giảm tốc độ, sẽ có rất nhiều thứ như kim loại, cao su, dầu lửa, khí đốt, vân vân xuống giá vì công nghiệp nước Tầu không mua như trước nữa. Các món đó bán rẻ hơn, hàng hóa mà người ta làm ra với các món đó cũng rẻ hơn. Giá cả không tăng, bớt lo lạm phát. Một lý do nữa là đồng mỹ kim đã lên giá 15% trong vòng 12 tháng qua, nghĩa là dân Mỹ đang được mua hàng nhập cảng với giá rẻ hơn. Càng bớt lo lạm phát.

Sau khi bà Yellen công bố quyết định không tăng lãi suất, phản ứng của thị trường chứng khoán thế giới mới đáng ngạc nhiên. Bình thường, khi lãi suất giảm hoặc không tăng như chờ đợi thì giá các cổ phần sẽ cao hơn. Lý do, vì người ta vay tiền dễ dàng hơn để sản xuất cũng như tiêu thụ; thì giá trị các công ty sẽ lên cao. Hơn nữa, mua trái phiếu vẫn chỉ được trả lãi suất thấp thì nhiều người thích mua cổ phiếu hơn.

Nhưng trong tuần trước, thị trường chứng khoán thế giới đã phản ứng ngược lại: Các thị trường ở Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Á đều xuống sau khi nghe tin Mỹ không tăng lãi suất. Tại sao thị trường chạy ngược chiều như vậy? Tất cả vì mối lo lắng chung về kinh tế Trung Quốc.

Bà Yellen nêu tên Trung Quốc khi giải thích tại sao không tăng lãi suất. Nhưng bà cũng nhắc nhở đến một sự thật ai cũng biết, là kinh tế Trung Quốc đang yếu, cũng như kinh tế nhiều nước đang lên khác, như Nga, Brazil, Indonesia, các nước lớn Châu Phi. Kinh tế Trung Quốc lớn hàng thứ nhì thế giới, mua bán với tất cả các nước lớn khác. Nhưng không ai biết chính quyền cộng sản Trung Hoa sẽ làm gì và không biết họ có khả năng cầm lái con tầu kinh tế trong cơn sóng gió này hay không. Ðó là một tình trạng bất trắc từ Trung Quốc lan ra khắp thế giới.

Mà thị trường chứng khoán sợ nhất khi thấy tương lai bất trắc. Vì vậy cả thế giới bây giờ theo dõi các hành động của Bắc Kinh xem họ sẽ xoay trở ra sao. Câu hỏi lớn nhất là đảng Cộng Sản Trung Quốc còn tiếp tục chương trình cải tổ kinh tế mới hay không?

Tại Seattle, nói chuyện với các doanh nhân hàng đầu của nước Mỹ, ông Tập Cận Bình bảo đảm với họ rằng ông vẫn tiếp tục “cho thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bố tài nguyên.” Phải cải tổ hệ thống ngân hàng, phải tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, phải giảm bớt vai trò của chính quyền, không can thiệp vào các thị trường nữa - trong đó có chính sách hộ khẩu là một can thiệp thô bạo vào thị trường lao động. Ngày đầu tuần, Thủ Tướng Trung Quốc Lý Khắc Trường nói chuyện với Bộ Trưởng Tài Chánh Anh Quốc George Osborne cũng hứa hẹn: “Chúng tôi sẽ xây dựng những thị trường chứng khoán cởi mở, công khai minh bạch và ổn định trong tương lai dài hạn.”

Chuyến đi của ông Tập Cận Bình nhằm mục đích rõ rệt là gây được lòng tin của giới kinh doanh Mỹ vào tương lai kinh tế Trung Quốc. Mà đó cũng là lãnh vực hai nước có thể đồng ý với nhau được nhiều nhất. Bởi vì trong lãnh vực kinh tế, khi anh cũng chấp nhận sống theo quy luật thị trường như tôi thì hai bên không có gì đối nghịch nhau cả. Trong các vấn đề nhân quyền, an ninh vùng Ðông Nam Á, tin tặc, vân vân, có những khúc mắc khó giải quyết. Khi cả đều hai nói bằng ngôn ngữ của đồng tiền thì thỏa hiệp sẽ nhanh hơn.

Nhưng ông Tập Cận Bình sẽ khó bỏ qua chuyện bà Yellen nêu tên kinh tế Trung Hoa như lý do chính khiến bà không thể tăng lãi suất trong tuần qua. Tại sao bà không nói chung chung về tình trạng kinh tế thế giới, từ Hy Lạp tới Brazil và Trung Quốc, tất cả đều yếu kém? Tại sao bà lại chỉ nhắc tới Trung Quốc? Ông Tập Cận Bình sẽ phải chấp nhận một điều là trong một nước tự do dân chủ người đứng đầu ngân hàng trung ương được quyết định hoàn toàn độc lập với chính sách của hành pháp và lập pháp. Họ nói và làm theo lương tâm. Hiện nay bà Janet Yellen đang phải đóng vai trò làm ngân hàng trung ương của cả thế giới chứ không riêng của nước Mỹ. Vì mỗi quyết định của bà sẽ ảnh hưởng tới kinh tế tất cả các nước trên thế giới. Chính vì vậy mà thay vì tăng lãi suất trong tuần trước, Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đã ngừng tay không tăng; để tránh không làm cho kinh tế thế giới bị chao đảo thêm.

Ngô Nhân Dụng

(Người Việt)

Đảng cộng sản Trung Quốc phê bình tỉ phú Lý Gia Thành khiến giới kinh doanh lạnh tóc gáy

Có phân tích cho rằng, truyền thông nhà nước Trung Quốc phê bình Lý Gia Thành, đã thể hiện ra tâm lý thù địch, khiến cho giới kinh doanh lạnh tóc gáy, hậu quả là dẫn đến càng nhiều người đầu tư ra nước ngoài để chạy thoát thân.
Có phân tích cho rằng, truyền thông nhà nước Trung Quốc phê bình Lý Gia Thành, đã thể hiện ra tâm lý thù địch, khiến cho giới kinh doanh lạnh tóc gáy, hậu quả là dẫn đến càng nhiều người đầu tư ra nước ngoài để chạy thoát thân.

Gần đây, truyền thông nhà nước Trung Quốc có đưa ra bài báo, với tựa đề “Đừng để Lý Gia Thành chạy mất”, đã công khai phê bình Lý Gia Thành rút vốn khỏi Trung Quốc, dẫn đến sự quan tâm của các giới. Sau đó, về phía Lý Gia Thành yên ắng khoảng 10 ngày, cuối cùng những xí nghiệp ở dưới đã có phản ứng.

Tờ “Tân Hoa Xã” ngày 12 đưa ra bài viết với tựa đề “Đừng để Lý Gia Thành chạy mất”, đã khiến dư luận xôn xao. Tập đoàn cao cấp của ông Lý Gia Thành đã im hơi lặng tiếng hơn 10 ngày, cuối cùng cũng có hành động hồi đáp lại.

Giám đốc điều hành bất động sản Trường Thực, ông Triệu Quốc Hùng cho biết: “Hông Kông là một xã hội tự do, mọi người đều bình luận sự việc theo những góc độ khác nhau, tôi hy vọng mọi người có thể đánh giá dựa trên sự thực khách quan, chứ không thêm vào ý kiến chủ quan cá nhân.”

Bình luận viên thời sự, Lưu Duệ Thiệu cho biết, bài viết “Đừng để Lý Gia Thành chạy mất” đã đưa ra một tín hiệu nguy hiểm.

Lưu Duệ Thiệu cho biết thêm: “Nếu như anh nghe lời thì tôi sẽ cho anh ăn, nếu như anh không nghe lời, thì một ngón tay cũng có thể hạ gục anh. Đây là thái độ quản lý Hồng Kông của Đảng cộng sản Trung Quốc.”

Có phân tích cho rằng, truyền thông nhà nước Trung Quốc phê bình Lý Gia Thành, đã thể hiện ra tâm lý thù địch, khiến cho giới kinh doanh lạnh tóc gáy, hậu quả là dẫn đến càng nhiều người đầu tư ra nước ngoài để chạy thoát thân.

Cho đến ngày 5/9, tài sản của Lý Gia Thành là 24,8 tỉ đô la. Mấy năm gần đây, Lý Gia Thành liên tiếp bán tài sản tại Trung Quốc, theo thống kê không hoàn chỉnh, kim ngạch tài sản tiền mặt trong nước 3 năm gần đây đạt hàng trăm tỷ, trong khoảng thời gian đó những công ty của Lý Gia Thành không có khoản đầu tư mới nào. Vì thế, Lý Gia Thành bị đánh giá là không cọi trọng môi trường kinh doanh, chính trị của đại Lục.

Theo NTDTV

Thiên Minh biên dịch

(Đại Kỷ Nguyên VN)

Kinh tế Trung Quốc: Thúc đẩy hay rời xa nguyên tắc thị trường?

Sau khi thị trường chứng khoán (TTCK) Trung Quốc mất hơn 30% giá trị vốn hóa vào tháng 7, đồng Nhân dân tệ (NDT) phá giá hơn 3% vào tháng 8 và các số liệu kinh tế vĩ mô đầy thất vọng vào tháng 9, các tranh luận về triển vọng kinh tế Trung Quốc trong ngắn và trung hạn lại trỗi dậy mạnh mẽ với hai câu hỏi phổ biến “Kinh tế Trung Quốc đang thực sự gặp vấn đề gì?” và “Liệu kinh tế Trung Quốc có sụp đổ hay không?”

dragon_2453844bNhư để trả lời cho sự lo lắng của thị trường, tại Hội nghị các bộ trưởng tài chính của nhóm G20 diễn ra vào tháng 9, thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC ) Chu Tiểu Xuyên trấn an các nhà kinh tế của 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới rằng “Hiện tại, tỷ giá hối đoái của đồng NDT đang đi vào ổn định, sự điều chỉnh của thị trường chứng khoán gần như đã kết thúc, và thị trường tài chính đang cho thấy hy vọng bình ổn… mức độ vay nợ trên thị trường đã giảm nhiều, và chúng tôi nghĩ không còn rủi ro hệ thống”.

Trong khi đó, cũng tại hội nghị này, Lâu Kế Vĩ – Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc – nói rằng Trung Quốc sẽ duy trì tăng trưởng quanh ngưỡng 7% trong vòng 4-5 năm tới. Còn tại Diễn đàn Kinh tế Davos mùa hè tổ chức tại Liêu Ninh (Trung Quốc) vào ngày 10/9 năm nay, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường cho rằng “Trung Quốc không phải là nguồn gốc các rủi ro của kinh tế thế giới mà là một trong những động lực tăng trưởng của kinh tế toàn cầu”. Ông Lý Khắc Cường cũng không quên nhắc lại với thế giới những cải cách quan trọng mà Trung Quốc đã và sẽ tiến hành.

Nhưng có thể thấy, những phát biểu mang tính trấn an của những vị trí lãnh đạo kinh tế chủ chốt của Trung Quốc đều trả lời các vấn đề mang tính “kĩ thuật và tức thời” của kinh tế Trung Quốc. Cùng thời điểm những phát biểu nêu trên được đưa ra, EuroCham đã gửi lên chính phủ Trung Quốc một bản “Kiến nghị của doanh nghiệp Châu Âu tại Trung Quốc” trong đó bày tỏ sự lo ngại trước tình trạng Trung Quốc “chỉ cải cách không mở cửa”. Bản kiến nghị cho rằng, những tiến triển trong lĩnh vực cải cách thị trường hóa tại Trung Quốc đã diễn ra vô cùng chậm chạp, khiến cho các doanh nghiệp châu Âu đang làm ăn tại Trung Quốc bắt đầu “khủng hoảng niềm tin”. Ông Joerg Wuttke – Chủ tịch EuroCham tại Trung Quốc – khẳng định “Liên minh Châu Âu chưa từng chứng kiến một đường hướng chính sách tràn ngập mâu thuẫn ở đó tồn tại đồng thời cả (việc tiến hành) cải cách và đóng cửa. Tôi vô cùng lo lắng về việc xu thế cải cách đã giảm đi”.

Cá nhân tác giả bài viết cho rằng, sau 3 năm dưới sự lãnh đạo của thế hệ lãnh đạo thứ 5, câu hỏi quan trọng hơn cả đối với kinh tế Trung Quốc – cũng là điều Trung Quốc cần trả lời cho thị trường – là liệu các cam kết cải cách theo hướng kinh tế thị trường có được nước này thực thi đầy đủ hay không? Những biện pháp cải cách thị trường hóa có mạnh mẽ như mức độ hùng hồn trong tuyên bố của chính phủ Trung Quốc hay không? Bởi đối với Trung Quốc việc chuyển đổi sang trạng thái bình thường mới (New Normal) không chỉ gồm một hệ các chỉ số mới mà quan trọng hơn cả, họ cần có một thể chế kinh tế mới thực sự thị trường.

Một cấu trúc chính trị đang thay đổi: Làm sao để tích hợp tập quyền chính trị với phân quyền kinh tế?  

Trong suốt giai đoạn hậu Mao Trạch Đông, các nguồn lực và quyền hạn được phân chia giữa chính quyền trung ương và địa phương theo chiều dọc (nếu trong nội bộ chính quyền) và theo chiều ngang (nếu giữa các chính quyền) nhằm định rõ kết quả của các chính sách. Trong giai đoạn Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo, các lỗ hổng phức tạp về vấn đề hoạch định chính sách càng gia tăng, dẫn đến hàng loạt các nhân tố chính trị mới, bao gồm các nhà hoạt động chính trị, giới truyền thông và các doanh nghiệp nhà nc (DNNN) cũng bắt đầu gia nhập vào hệ thống hoạch định chính sách của Trung Quốc.

Đặc điểm rõ nét nhất của cấu trúc quyền lực này là Đảng Cộng sản Trung Quốc đóng vai trò mờ nhạt dần trong việc quyết sách, thay vào đó, vai trò của bộ máy nhà nước ngày càng nổi trội. Những nghiên cứu của Lý Thành về cấu trúc chính trị Trung Quốc trước Đại hội 18 của nước này cho thấy, số lượng ủy viên trung ương Đảng xuất thân từ lãnh đạo tập đoàn kinh tế lớn hoặc DNNN quan trọng đã tăng mạnh từ con số chưa đầy 2% vào Đại hội 12 (năm 1982 dưới thời Đặng Tiểu Bình) lên đỉnh điểm 52% vào Đại hội 15 (năm 1997 dưới thời Giang Trạch Dân). Sang thời Hồ Cẩm Đào, con số này giảm dần về mức 31,3% vào nhiệm kỳ cuối. Đến Đại hội 17, các ủy viên xuất thân từ DNNN và tập đoàn kinh tế còn chiếm tới 78% trong Bộ Chính trị và 40% trong Thường vụ Bộ Chính trị. Mặc dù, quyền lực tập trung của Tổng bí thư khiến những số liệu này không có nghĩa là các lãnh đạo xuất thân từ DNNN có thể “thao túng” được chính sách của trung ương nhưng rõ ràng, quá trình thương lượng để ra quyết sách không chỉ bị kéo dài về thời gian mà còn gia tăng cả chi phí thương lượng. Điều này càng rõ nét khi chúng ta nhớ lại rằng giai đoạn trước khi Tập Cận Bình lên nắm quyền, Trung Quốc vẫn tồn tại cơ chế ra quyết định dựa trên sự đồng thuận giữa các lãnh đạo cấp cao.

Vào giai đoạn cuối dưới sự điều hành của thế hệ Hồ Cẩm Đào, sự phát triển của các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách đã làm gia tăng sự phân tán trong quá trình ra quyết định và tạo ra nhiều rào cản mới cho việc thực thi chính sách. Các chính sách đòi hỏi phải có sự hỗ trợ và quan tâm lâu dài từ các cán bộ cấp cao mới có thể giải quyết được những tranh chấp giữa các cơ quan và đảm bảo được sự thi hành nghiêm chỉnh.

Bộ máy chính quyền mà Tập Cận Bình xây dựng đang nỗ lực hoạt động kiên quyết nhằm thay đổi xu hướng trước đây. Trong khi Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo để quá trình hoạch định chính sách kinh tế phụ thuộc nhiều vào chính phủ đồng thời để chính phủ can thiệp sâu vào các vấn đề kinh tế hàng ngày, thì Tập Cận Bình lại nhấn mạnh vai trò của Đảng trong hoạch định chính sách kinh tế và giảm bớt sự tham gia của chính phủ trong các hoạt động không cần thiết. Sự hình thành của Tiểu ban Lãnh đạo Tăng cường Cải cách Toàn diện (CDRLSG) và Tiểu ban Lãnh đạo Trung ương về Kinh tế và Tài chính (CFELSG) với quyền lực siêu Bộ đã được thành lập. Tập Cận Bình đứng đầu tất cả các tiểu ban này trong khi đó thủ tướng Lý Khắc Cường chỉ đóng vai trò phó trưởng tiểu ban.

Sự thay đổi cấu trúc quyền lực này cho thấy, dưới thời Tập Cận Bình, vai trò của Đảng đã được khôi phục và một cấu trúc chính trị tập quyền đã định hình trọn vẹn. Hàng loạt cuộc điều tra tham nhũng nhằm vào quân đội và DNNN không chỉ làm giảm số lượng các ủy viên trung ương trong quá trình hoạch định chính sách, nó còn gửi đi thông điệp của chính quyền trung ương: quân đội và các tập đoàn kinh tế  không còn là những thế lực có thể gây khó khăn cho Tổng bí thư trong việc quyết sách như trước đây.

Với những thay đổi rõ nét về cấu trúc chính trị, có hai câu hỏi đặt ra là (i) liệu khuynh hướng chính trị tập quyền mà ông Tập Cận Bình đang tiến hành có mâu thuẫn với khuynh hướng cải cách kinh tế theo hướng thị trường hóa hay không? Và (ii) Trung Quốc sẽ thực sự giao cho thị trường “vai trò quyết định” trong việc phân bổ nguồn lực đến mức độ nào – những điều đó sẽ tác động lên quyền lực và tính chính danh của Đảng Cộng sản Trung Quốc ra sao?

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, xu hướng tập quyền hiện nay ở Trung Quốc là hợp lí bởi để thúc đẩy được các cải cách “khó nhằn”, Tập Cận Bình cần có đầy đủ quyền lực, thậm chí nhiều quyền lực hơn các lãnh đạo tiền nhiệm – bởi mức độ cải cách mà ông phải đối diện cũng lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, sẽ có một câu hỏi khác khiến các nhà phân tích dạng này lúng túng: nếu quyền lực được trao cho một cá nhân với bất kỳ lí do gì thì xã hội đó có tồn tại cơ chế để ràng buộc quyền lực của cá nhân đó hay không?

Ứng xử với thị trường tức thời

Nếu những thay đổi về cấu trúc quyền lực đặt ra những lo lắng về triển vọng Trung Quốc sẵn sàng thúc đẩy các cải cách thị trường hóa thì những gì diễn ra gần đây trong nền kinh tế Trung Quốc khiến những lo ngại này càng gia tăng.

Trên TTCK, với mong muốn nhanh chóng bình ổn TTCK đang trong cơn chao đảo, Trung Quốc đã để Bộ công an vào cuộc nhằm điều tra các giao dịch được cho là bán khống. Tuy nhiên, điều này có “bình thường” hay không khi mà việc điều tra này hoàn toàn có thể giao cho Ủy ban Quản lí Giám sát Chứng khoán Quốc gia (CSRC) tiến hành. Thông thường, việc điều tra gian lận sẽ được trao cho cơ quan quản lí thị trường tiến hành, sau đó cân nhắc các dấu hiệu hình sự mới có thể chuyển sang cho Bộ Công an. Bên cạnh đó, sự rớt giá trên TTCK Trung Quốc còn được truyền thông nước này gắn với ít thuyết âm mưu cho rằng các nhà đầu tư phương Tây đã chủ đích tấn công TTCK Trung Quốc. Việc chính trị hóa các vấn đề kinh tế không phải dấu hiệu lành mạnh đối với một quốc gia đang hướng đến điểm đích là kinh tế thị trường.  Cũng trong đợt giải cứu TTCK này, mức độ can thiệp hành chính của Trung Quốc có quy mô lớn. Sau khi TTCK Trung Quốc chao đảo, Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) có một chương đưa ra những phê phán gay gắt trước vai trò mà chính phủ Trung Quốc đã thể hiện. Nguyên văn chương này đã chỉ ra khi TTCK lao dốc, chính phủ Trung Quốc đã thể hiện các chức năng “chưa rõ ràng, trùng lặp và xung đột nhau”. Báo cáo đã phê phán mạnh mẽ việc chính phủ Trung Quốc chưa đảm nhiệm tốt vai trò quản lí vĩ mô trên thị trường tài chính tiền tệ, ngược lại “can dự một cách phổ biến và trực tiếp vào hoạt động phân bổ nguồn lực”. Chương đó về sau bị cắt bỏ. WB giải thích rằng những bình luận như vậy không phù hợp với tiêu chuẩn thông thường của tổ chức này khi nhận định về các nước thành viên.

Bên cạnh hàng loạt dẫn chứng dễ dàng cho thấy sự can thiệp “phi truyền thống” của Trung Quốc vào TTCK, điều đáng nói hơn cả từ sự can thiệp như thể giải cứu một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện này là nó cho thấy chính phủ Trung Quốc vẫn chưa sẵn sàng cho các biến động mạnh của thị trường, trong khi đó biến động lại là bản chất của thị trường.

Trong vấn đề tỷ giá NDT, đây luôn là một lĩnh vực thể hiện mức độ “sẵn sàng cải cách thị trường hóa” của Trung Quốc. Trong những năm qua, Trung Quốc đã tiến một bước dài trong việc thị trường hóa lãi suất và nới lỏng tỷ giá, nhưng tự do hóa tài khoản vốn vẫn là một chủ đề ít được đề cập. Trong việc PBoC phá giá liên tiếp 3 ngày (từ 11-13/8) cảm nhận chung của thị trường toàn cầu là không ai hiểu PBoC sẽ tiếp tục làm gì và thực sự muốn gì. Nếu đối chiếu với cách làm Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed), chúng ta sẽ thấy rất rõ rằng cách làm hiện nay của Trung Quốc làm gia tăng rủi ro cho kinh tế toàn cầu hơn rất nhiều chỉ bởi việc Trung Quốc đưa ra các quyết sách mang tính khó lường cao. Khi là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc có lẽ đã ý thức được rằng mỗi thay đổi chính sách của họ sẽ tác động đến nhiều nước – trước hết là các nước trong khu vực. Cho đến nay Fed chưa quyết định sẽ tăng lãi suất vào tháng 9 hay không,[1] nhưng những thảo luận này đã được ra nhiều tháng trước, qua đó giúp cho các nước xây dựng các kịch bản kinh tế phù hợp. Ngoài ra, đối với giới phân tích kĩ thuật, họ có thể dựa vào chỉ số FedWatch của CME Group,  lãi suất của các hợp đồng tương lai của Fed (futures fed funds) và đường cong lãi suất của US Treasury Bond (trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ) để nhận định về thay đổi chính sách của Fed trong vài tháng tới. Với PBoC, chúng ta không có nhiều công cụ như vậy.

Những người cho rằng việc PBoC phá giá là để tiến tới việc để thị trường quyết định tỷ giá có thể sẽ phải cân nhắc lại nhận định của mình nếu họ biết rằng vào phiên giao dịch cuối tuần trước (11/9), chỉ trong vài phút, tỷ giá đồng NDT giao dịch tại thị trường Hong Kong đã tăng 1% khi các ngân hàng có vốn Trung Quốc đẩy mạnh việc mua vào NDT.

Đã đến lúc PBoC nói riêng và Trung Quốc nói chung cần chuyển từ ứng xử theo “thuật” (thói quen cá biệt) sang theo “đạo” (luật lệ, thông lệ quốc tế). Trung Quốc đã chuyển đổi được 35 năm, quốc gia này cũng gia nhập WTO được 15 năm và đang vận động cho sự ra đời của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), nên có rất ít lí do để nói rằng Trung Quốc chưa quen thuộc với hệ thống luật quốc tế. Nếu muốn trở thành người thay đổi luật chơi (rule-maker), Trung Quốc trước hết cần là người tuân thủ luật chơi (rule-taker).

Thực thi các cam kết cải cách thị trường hóa dài hạn

Sau khi Trung Quốc đưa ra cam kết cải cách “để thị trường đóng vai trò quyết định”, chúng ta đều ít nhiều kỳ vọng các cải cách thực chất sẽ được ban hành. Tuy nhiên, bên cạnh một số cải cách khó hiểu về DNNN – lựa chọn 6 doanh nghiệp không quan trọng để thí điểm cải cách quản trị công ty – các cải cách quan trọng khác hầu như ít tiến triển. Xu hướng bảo hộ (có phần) gia tăng và cải cách chậm chạp trong lĩnh vực tài chính tiền tệ khiến nhiều nhà nghiên cứu lo ngại rằng Trung Quốc chỉ tuyên bố cải cách chứ không thực sự mở cửa.

Sự bảo hộ trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc chưa có dấu hiệu giảm xuống. Theo số liệu của ECFR (năm 2015) mặc dù Trung Quốc nhanh chóng tìm kiếm được các thị trường đầu tư tại các nước phát triển nhưng vấn đề tiếp cận và thâm nhập thị trường Trung Quốc lại là một bài toán khó đối với các công ty nước ngoài. Trong đó nổi lên hai vấn đề là bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc (77% công ty châu Âu gặp phải vấn đề này) và vấn đề tiếp cận tài chính (66% doanh nghiệp vừa và nhỏ châu Âu coi đây là thách thức lớn nhất khi đầu tư tại Trung Quốc).

Vấn đề tương tự cũng xuất hiện trong quan hệ Mỹ – Trung. Mặc dù hai nước đang thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đầu tư Song phương (BIT) nhưng việc mở cửa thị trường Trung Quốc cho các doanh nghiệp dịch vụ của Mỹ vấn là một nhiệm vụ khó khăn đối với chính quyền của tổng thống Obama. Trong khi danh sách đầu tư chọn-bỏ (negative list) của Mỹ chỉ quy định khoảng 10 ngành Trung Quốc không được đầu tư thì danh sách của Trung Quốc là khoảng 1.000 ngành. Trung Quốc nói rằng họ chưa có kinh nghiệm trong việc quản lí đầu tư từ nguyên tắc chọn-cho sang chọn-bỏ nhưng Trung Quốc đã gia nhập WTO gần 15 năm và những chuyển biến trong việc hạ thấp rào cản gia nhập thị trường của nước này trong nhiều lĩnh vực vẫn tiến triển hết sức chậm chạp. Theo số liệu CFR (2015), cùng với Ấn Độ, Mexico, Trung Quốc là quốc gia có hàng rào thuế quan đối với các ngành dịch vụ cao nhất thế giới.

Cải cách thị trường tài chính cũng là một dấu hỏi khi chúng ta theo dõi trường hợp Khu thương mại tự do Thượng Hải (SFTZ). Được kỳ vọng sẽ là vườn ươm mới cho cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc trong bối cảnh hiện tại, SFTZ sẽ là nơi thúc đẩy các cải cách tự do hóa tài chính, thúc đẩy quốc tế hóa NDT và SFTZ đã xuất hiện đầy ồn ã.

Đến cuối tháng 12/2013, 12 bộ bao gồm các nhà quản lý tài chính cấp bộ đã công bố những quy định liên quan đến việc thực thi dự án cải cách tài chính tiền tệ, gần 3.500 công ty, bao gồm 288 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và 12 ngân hàng nước ngoài đã chấp thuận sự quản lý của SFTZ vừa được thiết lập để đăng ký vào khu vực này. Nhưng chỉ đến tháng 6/2014, nhiều công ty nước ngoài bắt đầu phàn nàn về vấn đề thiếu hụt những cải cách có ý nghĩa, và các vị đại diện từ một số công ty nước ngoài phải thừa nhận rằng quyết định đầu tư vào khu vực này của họ là do chính trị thúc đẩy hơn là động cơ thương mại. Một số lượng lớn các hạng mục cải cách được công bố trước đó bao gồm tự do hóa hệ thống tài khoản thương mại, tự do hóa lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các công ty, và xóa bỏ yêu cầu về vốn điều lệ v.v… đã tiến triển rất chậm. Thậm chí việc Bộ Thương mại (MOFCOM) duyệt lại danh mục đầu tư chọn-bỏ được công bố vào tháng 7 /2014 “giảm 27% số lượng các mục bị cấm” cũng bị chỉ trích gay gắt. Phía Mỹ cho rằng, sự cắt giảm này chủ yếu đến từ việc xóa bỏ những mục dư thừa ở trong văn bản gốc chứ không phải sự mở cửa mới mẻ và quan trọng nào.

Trung Quốc: dẹp cả thị trưởng và thị trường? 

Khi mới tiến hành chuyển đổi nền kinh tế, ở Trung Quốc thịnh hành câu nói về trạng thái làm ăn ở nước này: “không tìm thị trường chỉ tìm thị trưởng” – ám chỉ một nền kinh tế vận hành dựa vào quan hệ giữa doanh nhân và chính giới. Trong bối cảnh chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch, giới quan chức nắm giữ nhiều quyền định đoạt, dạng quan hệ doanh nhân – chính trị gia này là dễ hiểu và có tác dụng tích cực nếu các chính trị gia cũng là những người có đầu óc cải cách. Tuy nhiên, dạng quan hệ này cũng tạo ra tham  nhũng và khiến thị trường phát triển méo mó. Sau khi trở thành chủ tịch nước, với chiến dịch “đả hổ diệt ruồi”, ông Tập Cận Bình đã tấn công vào mối quan hệ “tìm thị trưởng” tồn tại phổ biến trong kinh tế Trung Quốc sau 35 năm chuyển đổi. Trung Quốc cũng tuyên bố tại Hội nghị trung ương khóa 18 rằng sẽ để “thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ nguồn lực”, một lộ trình cải cách dựa trên “phương án 383” đã được đưa ra.

Nhưng với những gì đang diễn ra hiện nay, nhiều người bắt đầu đặt câu hỏi, liệu ông Tập Cận Bình có đang dẹp cả thị trưởng và thị trường hay không? Liệu có phải trạng thái bình thường mới của kinh tế Trung Quốc mà ông Tập Cận Bình muốn giới thiệu cho thế giới thấy là sự kết hợp giữa tập quyền về cấu trúc quyền lực và phân quyền về kinh tế (cam kết cải cách theo hướng thị trường hóa).

Với một nền kinh tế lớn, ngày càng có ảnh hưởng toàn cầu như Trung Quốc, việc theo dõi số liệu rất quan trọng, nhưng tôi cho rằng quan trọng hơn là theo dõi khuynh hướng phát triển của nền kinh tế này, mà điều đó lại phụ thuộc vào khuynh hướng điều hành của thế hệ lãnh đạo.

Barry Naughton từng nhận định rằng, nhiệm vụ của thế hệ lãnh đạo mới tại Trung Quốc là phải cải thiện năng lực chấp chính, trong đó điểm khác biệt so với các chính phủ tiền nhiệm là họ phải thể hiện khả năng đưa ra các cam kết mà thị trường có thể kiểm chứng được. Điều này vừa giảm rủi ro cho thị trường, vừa xây dựng một hệ thống thể chế mới (cách làm mới, luật tắc mới) với “thặng dư thể chế” là “thói quen ứng xử thị trường hơn”.

Với dự trữ ngoại tệ khổng lồ lên tới 3.500 tỷ USD (7/2015), và thành quả 35 năm chuyển đổi kinh tế, Trung Quốc có thể vẫn đủ khả năng xoay sở với những khó khăn tức thời trước mắt, nhưng rủi ro lớn nhất đối với nền kinh tế này là trì hoãn cải cách quá lâu khi không chặt đứt được vòi bạch tuộc của chủ nghĩa tư bản thân hữu. Rủi ro này sẽ khiến nền Trung Quốc phải trả giá như thế nào? Tôi cho rằng, Nhật

Bản và Hàn Quốc sẽ trả lời cho Trung Quốc câu hỏi này thuyết phục hơn bất kỳ quốc gia nào.

Trở lại với những thảo luận về tương lai kinh tế Trung Quốc, câu hỏi nền tảng nhất cần đưa ra lúc này là: Trung Quốc sẽ xử lí mối quan hệ giữa chính phủ với thị trường như thế nào, liệu quá trình thị trường hóa kinh tế Trung Quốc có bị đảo ngược hay không?

Ngoài ra, một thảo luận khác cũng không kém phần quan trọng là cách thức cải cách “dò đá qua sông” có còn “hữu hiệu” trong bối cảnh hiện thời hay không? Để trả lời câu hỏi này cần một thảo luận chuyên sâu hơn, nhưng rõ ràng là các phương pháp tiếp cận đến cải cách kinh tế của ông Tập Cận Bình trong 3 năm đầu là mang tính gia tăng hơn mang tính bước ngoặt. Nếu ông Tập Cận Bình sau thời gian tích lũy các nguồn lực chính trị và hoạch định rõ đường hướng cải cách có thể thực hiện các “cú nhảy vọt trong cải cách”, đó sẽ là một tin vui với kinh tế Trung Quốc và thế giới.

Tác giả: Phạm Sỹ Thành

Phạm Sỹ Thành là Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Hà Nội.

(Nghiên Cứu Quốc Tế)

———————

[1] Ngày 17/9, Fed đã quyết định giữ nguyên mà không tăng lãi suất (NBT).


Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Giấc mơ Xô-viết của Vladimir Putin

Thỏa thuận hạt nhân gần đây được ký kết bởi sáu cường quốc thế giới và Iran là một thắng lợi của chủ nghĩa đa phương. Nếu các cường quốc kể trên – năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và Đức – thể hiện một ý chí chung, cùng làm việc để giải quyết các tranh chấp khác thì thế giới sẽ bước vào một kỷ nguyên mới của sự hợp tác và ổn định.

putin-svThật không may là một kịch bản như vậy dường như là quá xa vời. Từ các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông cho tới việc Nhà nước Hồi giáo (IS) tiếp tục tiến vào Trung Đông, cạnh tranh và xung đột đang đe dọa các trật tự khu vực đã tồn tại từ lâu. Nhưng có lẽ cuộc xung đột nghiêm trọng nhất – cuộc xung đột mà giải pháp cho nó có ý nghĩa đối với tất cả các nước còn lại – là ở Ukraine, một đất nước đang trở thành trọng tâm trong các tham vọng bành trướng của Tổng thống Nga Vladimir Putin.

Việc Nga đơn phương sáp nhập Crimea và ủng hộ lực lượng ly khai ở miền Đông Ukraine đã cắt đứt mối quan hệ của nước này với phương Tây, và Putin đã cố tình tái tạo một bầu không khí Chiến tranh Lạnh bằng cách giương cao “các giá trị bảo thủ” của Nga như một đối trọng về ý thức hệ với trật tự thế giới tự do do Mỹ dẫn đầu. Tuy nhiên, những vấn đề then chốt – cuộc thảm sát ở Syria, cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo, không phổ biến vũ khí hạt nhân, các lợi ích xung đột và yêu sách chủ quyền chồng lấn ở Bắc Cực – sẽ không thể được giải quyết nếu không có sự tham gia của Nga.

Đó là lý do tại sao một vài nỗ lực nhằm xoa dịu Nga là không thể tránh khỏi dù điều đó có thể là rất khó đối với các cường quốc phương Tây. Mỹ nên bớt coi thường những nhận thức của Nga trong vai trò là một cường quốc quan trọng và một nền văn minh lớn, và những lợi ích an ninh chính đáng của Nga liên quan đến biên giới của nó với các nước thành viên NATO phải được giải quyết, nhất là giữ Ukraine ở ngoài một liên minh quân sự đối đầu. Bất chấp sự phản đối mạnh mẽ từ quốc tế, việc Quốc hội Ukraine chấp thuận quyền tự chủ của các vùng ly khai thân Nga – một giải pháp được Putin đề xuất từ đầu  – là nhượng bộ cần thiết để khôi phục hòa bình.

Tuy nhiên, sau cùng thì Nga phải thay đổi đường hướng của chính mình. Sự hoài niệm định hướng tuyên truyền về vị thế “siêu cường” của Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh đang làm mờ đi những bài học của thời gian đó. Liên Xô là một đế chế không bền vững; nếu đã không thể tồn tại trong thời điểm mà sự cô lập và lưỡng cực là trật tự của lúc bấy giờ, thì chắc chắn nó sẽ không thể được tái lập trong hệ thống toàn cầu đa cực tương liên như hiện nay.

Giờ đây Nga không đủ điều kiện để đối đầu với phương Tây: Nền kinh tế của nước này đang tàn lụi và thiếu những liên minh vững chắc đủ khả năng chống lại sức mạnh của Mỹ. Putin đang hy vọng rằng Nga và các đối tác BRICS của mình (Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, và Nam Phi) sẽ trở thành “các nhà lãnh đạo tương lai của thế giới và của nền kinh tế toàn cầu,” như ông từng phát biểu hồi tháng 7 trong các phiên bế mạc cuộc họp thượng đỉnh của nhóm BRICS và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO).

Nhưng sự thật rõ ràng là cả BRICS và SCO đều không phải là một khối gắn kết có khả năng bảo vệ Nga khỏi những hậu quả của các hành động của nó ở Ukraine. Sự khác biệt về các giá trị và lợi ích chiến lược trong nội bộ các nhóm này không hề ít gay gắt hơn những bất đồng mà từng thành viên của chúng đang có với phương Tây.

Quan hệ song phương của Nga với Trung Quốc cũng không khác. Đó là mối quan hệ được thiết lập chủ yếu dựa trên sự phụ thuộc của Trung Quốc vào nguồn cung cấp năng lượng từ Nga, sự hỗ trợ lẫn nhau nhằm tạo nên “vùng ảnh hưởng” trong vai trò là nền tảng về mặt khái niệm cho một trật tự thế giới mới, và các cuộc diễn tập hải quân chung tại Biển Đen.

Nhưng cả hai nước cũng có những lợi ích xung đột ở Trung Á, nơi Trung Quốc đang theo đuổi các khoản đầu tư lớn để mở rộng ảnh hưởng của mình tại các nước mà Nga coi là vùng “cận hải ngoại” (tức là các nước cộng hòa mới hình thành sau sự sụp đổ của Liên Xô – NHĐ). Khi Putin nghi ngờ về sự độc lập của Kazakhstan vào năm ngoái, Trung Quốc đã nhanh chóng ủng hộ chủ quyền của quốc gia này. Khả năng Trung Quốc xâm lấn những vùng biên giới Viễn Đông không dân cư của Nga – nơi mà theo quan điểm của Trung Quốc là đã bị đánh cắp giống như Hồng Kông và Đài Loan trong giai đoạn “bách niên quốc sỉ” – là một mối lo ngại khác của Điện Kremlin.

Quan trọng hơn, nền kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc vào sự tiếp cận liên tục với các thị trường phương Tây và đặc biệt là Mỹ. Khi nền kinh tế phát triển chậm lại đang tạo cho Trung Quốc một tình trạng bấp bênh lớn hơn thì nước này không thể gây căng thẳng với Mỹ về bất cứ vấn đề nào không liên quan trực tiếp đến lợi ích của nó, ví dụ như những tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông.

Bất chấp những liên minh yếu ớt của Nga, Putin dường như không hề nao núng. Ngoài những bài nói chuyện đầy khoe khoang về kho vũ khí hạt nhân của Nga, chính phủ Putin gần đây đã công bố một học thuyết hải quân mới – một sự tương đồng đáng báo động với những thách thức hải quân của Đức đối với Anh trước Thế chiến I. Nếu hòa hoãn ngoại giao không được dàn xếp, Putin có thể sẽ tiếp tục con đường này và đẩy đất nước của ông đến gần cuộc đụng độ toàn diện với NATO hơn bao giờ hết.

Ngay cả khi không có cuộc đụng độ nào như vậy xảy ra thì những nỗ lực của Putin nhằm khôi phục lại ảnh hưởng của Nga trên lục địa Á-Âu (bằng mọi phương tiện cần thiết, nếu như những hành động của Nga tại Ukraine là một dấu hiệu cho điều đó) sẽ gây ra nhiều tổn thất. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Kazakhstan và Belarus, tương tự như Ukraine, đều cảnh giác trước chủ nghĩa bành trướng của Nga.

Putin đã bác bỏ khái niệm của cựu Tổng thống Medvedev về một “quan hệ đối tác để hiện đại hóa” với phương Tây. Nhưng một liên minh thuế quan Á-Âu giữa các nước hậu Xô viết và các quốc gia khác không phải là con đường hiện đại hóa cho nước Nga; những nỗ lực biến nền công nghiệp quốc phòng thành động cơ thúc đẩy công nghiệp hóa cũng vậy. Tóm lại, đó là mô hình Xô viết đã thất bại một lần và sẽ thất bại lần nữa.

Nếu Putin nghiêm túc về việc đa dạng hóa và củng cố nền kinh tế dựa trên hàng hóa cơ bản của Nga, qua đó nâng cao đời sống nhân dân, ông phải thu hút các công nghệ tiên tiến và đầu tư nước ngoài, đặc biệt là từ phương Tây. Để đạt được điều đó, Putin phải theo đuổi những cải cách dân chủ, chấn hưng các thể chế, và tái lập quan hệ ngoại giao với phương Tây.

Nga không còn vị thế để tạo nên một hệ thống quốc tế khác; nhưng nếu Putin tiếp tục theo đuổi một chính sách đối ngoại lỗi thời và thù địch thì nó có thể làm suy yếu trật tự thế giới hiện tại. Khi thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức gây bất ổn thì điều này sẽ không có lợi cho bất kỳ ai.

Phương Tây nên tìm cách xoa dịu Nga trong những vấn đề cốt lõi mang tính chiến lược như sự mở rộng của NATO. Nhưng điều đó sẽ không giúp Putin vượt qua được nguồn gốc của sự yếu kém của Nga, vốn nằm ở việc ông không có khả năng hoặc không sẵn sàng nhìn nhận sự thất bại của Liên Xô như nó vốn có.

Shlomo Ben-Ami, nguyên Ngoại trưởng Israel, là phó chủ tịch Trung tâm Quốc tế vì Hòa bình Toledo. Ông là tác giả của cuốn sách Scars of War, Wounds of Peace: The Israeli-Arab Tragedy (Vết sẹo chiến tranh, vết thương hòa bình: Bi kịch Israel-Ả Rập).

Nguồn: Shlomo Ben-Ami, “Vladimir Putin’s Soviet Dream,” Project Syndicate, 02/09/2015.

Biên dịch: Nguyễn Thanh Mai | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Copyright: Project Syndicate 2015 – Vladimir Putin’s Soviet Dream

(Nghiên Cứu Quốc Tế)

Việt Nam: Chi tiêu như phá vì ngân sách vẫn là ‘bí mật quốc gia’

Trong khi mức trung bình của chỉ số công khai ngân sách trên toàn cầu là 45 điểm thì Việt Nam chỉ đạt 18 điểm. Chỉ số công khai ngân sách của Việt Nam vẫn đều đặn... giảm!

         Trước nay, quản lý-phân bổ-sử dụng ngân sách ở Việt Nam vẫn không được công khai,
         thiếu minh bạch nên vừa lãng phí, vừa thiếu hiệu quả. (Hình: Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn)


Đó là kết quả mới nhất do Tổ Chức Đối Tác Ngân Sách Quốc Tế khảo sát và công bố.

Tuy không công khai và thiếu minh bạch về ngân sách đã được xác nhận là một trong những nguyên nhân chính khiến lãng phí công quỹ càng ngày càng nghiêm trọng, liên tục bội chi, nợ nần tăng nhiều và nhanh nhưng tại Việt Nam, thu - chi, sử dụng ngân sách vẫn là một thứ bí mật quốc gia!

Hồi tháng 6 vừa qua, ông Lê Đình Khanh, đại biểu của tỉnh Hải Dương ở Quốc Hội Việt Nam từng than rằng, do “Báo cáo ngân sách” được đóng dấu “Mật” nên ông ta không thể công khai những vấn đề có liên quan đến thu - chi, sử dụng ngân sách cho cử tri - những người đã bầu ông ta làm đại diện! Đó cũng là lý do khiến nhân vật này thắc mắc về “công khai” và “dân chủ.”

Ủy Ban Tài Chính-Ngân Sách của Quốc Hội Việt Nam đã từng thực hiện một cuộc khảo sát về “công khai, minh bạch ngân sách” tại các tỉnh là Bắc Giang, Hòa Bình, Nam Định, Quảng Trị và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Kết quả cuộc khảo sát vừa kể cho thấy, không có chính quyền tỉnh nào cung cấp cho dân chúng những thông tin về tổng thu, tổng chi và nơi/người mà dân chúng có thể nêu thắc mắc hoặc góp ý về thu-chi, sử dụng ngân sách.

Cũng theo kết quả cuộc khảo sát vừa kể thì đa số dân chúng chỉ biết rằng họ sẽ phải nộp những khoản nào, nộp bao nhiêu cho ngân sách, còn chính quốc gia dùng công quỹ chi cho những chuyện gì thì họ không biết.

Bởi thu-chi, sử dụng ngân sách được “bảo mật” từ trung ương đến địa phương nên sau khi khảo sát về phân cấp tài khóa tại Việt Nam, Ngân Hàng Thế Giới (WB) cho biết, kế hoạch chi tiêu của chính quyền địa phương không đáng tin cậy vì có sự chênh lệch lớn giữa dự chi và thực chi. Đặc biệt là những khoản thực chi cho đầu tư hạ tầng thường cao hơn 50% so với dự chi. Vượt xa hướng dẫn rằng, mọi thứ chỉ có thể xem là tốt nếu mức độ chênh lệch giữa dự chi và thực chi không nên quá 5%.

Đáng chú ý là theo WB, chênh lệch giữa tổng số dự chi và tổng số thực chi ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam lên tới 42%, ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên lên tới 35%. Tại những tỉnh khác, mức độ chênh lệch giữa tổng số dự chi và tổng số thực chi dao động trong khoảng từ 7% đến 9%.

WB nhận định, tình trạng vừa kể là do phía hành pháp được phép thay đổi dự chi, không cần phía lập pháp - đại diện cho dân chúng xem xét và phê duyệt. Tình trạng này diễn ra ngay cả ở cấp cao nhất. Năm 2013, Quốc Hội CSVN từng ấn định, bội chi không được vượt quá 5.3% GDP nhưng đến hết năm 2013, chế độ Hà Nội vẫn để cho bội chi lên tới 6.6% GDP và chẳng có viên chức nào chịu trách nhiệm.

Trước đây, Dự Luật Ngân Sách Nhà Nước từng có một điều nhằm xác định trách nhiệm của những người phê duyệt, cho phép sử dụng ngân sách sai nguyên tắc. Tuy nhiên mới đây, khi Quốc Hội Việt Nam bỏ phiếu thông qua dự luật này, điều vừa kể đã bị gạt bỏ. Theo tiết lộ của một viên chức lãnh đạo Quốc Hội Việt Nam thì sở dĩ Quốc Hội Việt Nam phải gạt bỏ điều vừa kể bởi có rất nhiều viên chức trong hệ thống chính quyền phản đối, với lý do, cho phép truy cứu trách nhiệm những người phê duyệt, cho phép sử dụng ngân sách sai nguyên tắc là một kiểu “trói” họ!

Khi trò chuyện với tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, ông Mori Mutsuya, người đứng đầu Tổ Chức Hợp Tác Quốc Tế Nhật tại Việt Nam (JICA), nhấn mạnh, ông ta thất vọng vì không thể tìm được những số liệu khả tín về nợ nần của chính quyền Việt Nam với ngoại quốc, với trong nước.

Ông Mutsuya nhận định, nợ nần của Việt Nam tăng vọt là do thâm hụt ngân sách. Thành ra rất cần phải xác định tại sao thâm hụt ngân sách càng ngày càng lớn. trước mắt, JICA có thể xác định, thâm hụt ngân sách càng ngày càng lớn không phải do đầu tư mà vì chi thường xuyên (chi để duy trì hoạt động của hệ thống công quyền) quá lớn (71% tổng chi ngân sách). JICA muốn phân tích để xác định những khoản nào trong chi thường xuyên làm tăng nợ nần nhưng thiếu cả số liệu lẫn thông tin.

Theo tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, nếu không minh bạch về thu-chi, sử dụng ngân sách, không thực hiện nghĩa vụ giải trình và trách nhiệm vẫn là của... tập thể thì ngân sách sẽ tiếp tục thâm thủng và nợ nần tiếp tục gia tăng.

(Người Việt)

Trung Quốc bành trướng ở Biển Đông đe dọa mục tiêu TPP

Trước khi xây dựng một trật tự kinh tế mới với các hiệp định thương mại, trước tiên các quy định của luật pháp quốc tế phải được thấm nhuần ở Biển Đông.

Nikkei Aisia Review ngày 21/9 bình luận, nỗ lực của Mỹ và Nhật Bản trong việc tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh khu vực ở châu Á thông qua hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể bị cản trở bởi sự hiện diện quân sự của Trung Quốc trên tuyến đường hàng hải thương mại trọng yếu ở Biển Đông.

                                               Lính Trung Quốc, ảnh minh họa: Reuters.

Khoảng 350 tàu đi que eo biển Malacca hàng ngày và một phần tư con số này thuộc sở hữu của các công ty Nhật Bản. Tuyến đường thương mại này rất quan trọng đối với chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất và cung cấp năng lượng cho châu Á.

Tuy nhiên ngay giữa tuyến đường hàng hải trọng yếu này là quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam), nơi Trung Quốc đang bồi lấp, xây dựng và quân sự hóa đảo nhân tạo bất hợp pháp. 3 đường băng quân sự trên 3000 mét đã được Bắc Kinh xây dựng để chiếm quyền kiểm soát trên không cũng như trên mặt biển.

Hoạt động này của Trung Quốc sẽ làm suy yếu sự ổn định của tuyến thương mại hàng hải huyết mạch của nền kinh tế Nhật Bản. Các quốc gia Đông Nam Á cũng phải thiết lập chính sách dưới áp lực của Trung Quốc. Mỹ và Nhật Bản dẫn đầu những nỗ lực phát triển kinh tế ở châu Á có thể trở nên vô ích.

Trước khi xây dựng một trật tự kinh tế mới với các hiệp định thương mại, trước tiên các quy định của luật pháp quốc tế phải được thấm nhuần ở Biển Đông. Điều này có thể giải thích các quyết định của Mỹ liên quan đến Việt Nam và Malaysia mặc dù nền kinh tế 2 nước chưa thỏa mãn yêu cầu Washington đặt ra.

Hai nước tham gia TPP có chính sách thương mại tự do là Singapore và Brunei ở xung quanh Biển Đông để làm đối trọng với Trung Quốc, Philippines cũng nỗ lực tìm cách tham gia TPP. Khuôn khổ TPP được khái niệm hóa bởi Washington như một chiến lược địa chính trị khi Tổng thống Obama nhậm chức năm 2009.

Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã tham gia thiết kế khuôn khổ TPP cho Nhà Trắng với mục đích cải thiện sự ổn định về quân sự, kinh tế phù hợp với chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ. Sau khi thiết kế khuôn khổ TPP được bàn giao cho Bộ Thương mại Hoa Kỳ, nơi bị ảnh hưởng lớn bởi Quốc hội và vận động hành lang của các tập đoàn khác nhau như ô tô, nông nghiệp và dược phẩm.

Hội nghị thượng đỉnh Obama - Tập Cận Bình trong tuần này ít có cơ hội giải quyết vấn đề Biển Đông. Bộ trưởng 12 nước thành viên tham gia đàm phán TO sẽ nhóm họp ngày 30/9 tại Atlanta, Hoa Kỳ được cho là "hy vọng cuối cùng" để đạt được một thỏa thuận chung về hiệp định năm nay.

Hồng Thủy

(Giáo Dục)

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Đinh Thế Hưng - Thằng nào tiên phong dẫn đầu thằng đó bị giẫm đạp đầu tiên?


Cuối những năm 80 đầu 90 của thế kỷ trước khi Bầu Kiên còn cặm cụi nhặt bạc lẻ, Bầu Đức đang là phó mộc thì Tăng Minh Phụng đã nổi lên là một đại gia. Bởi lẽ Bảy Phụng kinh doanh lĩnh vực dày dép, may mặc và hàng tiêu dùng bằng nhựa. Đánh đúng tâm lý khát hàng tiêu dùng của dân chúng sau thời gian tem phiếu hành hạ và nền kinh tế như con bệnh vừa qua khỏi cơn nguy kịch đang nhúc nhắc ăn giả bữa

Mở rộng quy mô công ty lên tầm Group là tham vọng của ông chủ gốc Tàu. Nhưng cũng giống như bao kẻ làm ăn vấn đề đầu tiên Phụng vấp phải là câu chuyện tiền ở đâu?

Khi cần tiền mần ăn thì ông bạn đầu tiên người ta nghĩa đến là các Bank. Nhưng các Bank hồi đó có thể đếm trên đầu bàn tay. Những ai đến các Bank thủa ấy còn nhớ cảm giác khúm núm như đến cơ quan công quyền chứ không phải doanh nghiệp buôn tiền như bây giờ

Hơn nữa Minh Phụng là doanh nghiệp tư nhân mà tư nhân hồi đó còn đang bị ghẻ lạnh mặc dù Hiến pháp 92 long trọng tuyên bố các thành phần kinh tế bình đẳng. Hơn nữa số tiền Minh Phụng vay quá lớn có thể hơn cả vốn điều lệ của một ngân hàng cỡ 4.000 tỷ đồng. Vay vốn khó như lên giời với quy định không cho váy 10% vốn của tổ chức tín dụng

Bảy Phụng dùng chiêu xé lẻ các khoản vay bằng cách lập nhiều công ty con và thuê người làm giám đốc mục đích chỉ là để ngân hàng cho vay tiền (thế là lừa cmn đảo). Chiêu này sau được` Nguyễn Đức Kiên nâng lên tầm cao mới

Gom cục tiền Bảy Phụng ném tất vào lĩnh vực ở Việt Nam thời đó dân làm ăn nói đến còn run rẩy lưỡi: Bất động sản !

Nhưng bối cảnh lúc đó, luật lá về địa ốc còn hỗn mang như vũ trụ thủa hồng hoang giống như một cái bẫy có thể sập xuống bất cứ lúc nào, khiến Chánh án tối cao lúc ấy phải thốt lên xử kiểu gì cũng được ! Thậm chí chiểu theo luật lúc đó doanh nghiệp kinh doanh bất động sản là bất hợp pháp

Đúng lúc đó, cơn bão khủng hoảng tài chính quét qua châu Á, đúng lúc đó, thị trương bất động sản dừng lại nghe ngóng chính sách và đóng băng theo chu kỳ

Nợ ngân hàng đến hạn trả trong khi tiền vay ngân hàng đang chết dí ở những đám đất hoang ! Đương nhiên các đồng chí PC 15 vào cuộc theo đúng phận sự vì có dấu hiệu tội phạm!

Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được thành lập và theo Bộ luật hình sự lúc đó bảy Phụng bị bắn nghìn lần mới đúng.

Tại tòa Bảy Phụng khóc mà rằng: Hãy cho tôi dăm năm nữa khi bất động sản hồi phục tôi sẽ trả đủ gốc và lãi không thiếu một xu.

Quan tòa cười khảy, báo chĩ bĩu môi, bằng hữu ngao ngán: số nợ đó 10 đời nhà mày trả chưa hết . Chết đến nơi còn chém gió

Quan tòa đã làm đúng bởi họ chỉ biết tuân theo pháp luật đúng như biểu tượng nữ thần công lý bịt mặt mang thanh kiếm

Như một sự tiên đoán thời gian sau bất động sản nóng rừng rực. Đất hoang trở thành đất vàng. Nhưng năm 2003 Minh Phụng đã bị hành quyết vài năm sau 500 bác ngồi Ba Đình bấm nút bỏ hình phải tử hình với tội Lừa đảo với lý do hoàn thiện thể chế cho phù hợp với kinh tế thị trường .Lúc đó tăng Minh Phụng đã sang cát

Thế chế là thứ vô hình nhưng nó có thể trói buộc hay kìm hãm xã hội đúng quy luật cơ sở hạ tầng và thượng tầng kiến trúc như bạn Mác quả quyết

Thể chế có thể giết chết người thậm chí giết chết cả tinh hoa nếu nó ì ạch 

Vi phạm pháp luật, xử đúng pháp luật, nhưng đó là pháp luật nào?

Vụ Minh Phụng xét dưới góc độ nào đó là cú quẫy đạp tuyệt vọng trong cái thể chế kinh tế quá chật chội, ọp ẹp, lỗi thời và bất an buộc người ta phải thừa nhận và hốt hoảng thay đổi 

Ls Đinh Thế Hưng

(Blog Beo)

Alan Phan - Ảo Vọng Mùa Thu


… Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Anh dặm trường mê mải
Đời chia hai nhánh sông

Phong thư tình ngây dại
Và vai môi rất mềm
Những hẹn hò cuống quýt
Trên lối xưa thiên đường

(Thơ của Phạm Văn Bình – Phạm Duy phổ nhạc)

thu vangDù lớn lên trong khói lửa chiến tranh, bao quanh bởi bom đạn, chết chóc và thảm kịch; dù không giàu có gì khi so với số đông nhân loại, thế hệ của tôi và bạn bè dưới thời VNCH hơn 40 năm trước, vẫn giữ trong lòng nhiều kỷ niệm mật ngọt êm đềm của tuổi trẻ…mà sau bao năm xa cách, khi gặp nhau vẫn nhắc nhớ về …những ngày xưa thân ái.

Một người bạn cũ, sau hơn 15 năm về sống ở Saigon,  làm tôi bật cười khi ví cuộc bỏ chạy lần 2, năm 2012 (không phải 1975) như một lần ly dị thứ hai với quê hương trong đời mình.

Lần đầu, khi bỏ xứ đi tị nạn, anh mang nhiều mặc cảm, như một người tình ích kỷ, để người yêu trơ trọi với ông chồng mới cưới. Anh nghĩ là “đời 2 đứa đã chia như nhánh sông” và có lẽ chẳng bao giờ còn gặp lại.  Sau vài năm hoài niệm và mang chút thù hằn, lòng anh lắng xuống, an phận và tranh đấu với cuộc sống trước mặt, cho mình, cho gia đình mới, không muốn suy nghĩ  lang bang về những chuyện quá khứ, mà sự khơi dậy để tiếp tục, có lẽ chỉ là những ảo vọng viển vông như Biển Đông.

Nhưng định mệnh lại có ý khác. Vì sự nghèo đói và sống còn của bản thân, của quyền lực, anh chồng của người yêu cũ, suy sụp và thất bại toàn diện, phải muối mặt chối bỏ quán tính truyền thống của mình, để quay đầu 180 độ, hăng hái ve vãn những kẻ thù và tội phạm ngày xưa; mong tìm chút “cơm thừa sữa cặn” mà ông chồng này vẫn khinh bỉ, dè bỉu khi nói về bọn “chạy theo đế quốc”.

Cánh cửa hé mở và anh bạn phản động của chúng tôi được phép “làm khách mời” trong gia đình người yêu cũ. Anh lên kế hoạch xây dựng một hành trình mới, mong nối lại duyên xưa, cho người yêu cũ một mức sống văn minh và sung túc, như phần lớn thế hệ mới của nhân loại. Người vợ anh lấy sau này ở Mỹ cũng đã mất vì tai nạn xe cộ, nên không còn gì để ngăn trở giấc mộng mới của anh.

Anh gom góp hết tiền bạc tài sản từ Mỹ về lại Việt Nam năm 1997, hăng hái như các anh bộ đội bác Hồ vượt Trường Sơn, quyết sống mái với bọn Mỹ-Ngụy. Sau 15 năm kinh doanh, nào mở trường dậy English, nào làm quán ăn…và cả đi làm công cho vài công ty nước ngoài, anh trắng tay quay về nơi đã dung dưỡng anh những ngày tạm trú 75, hy vọng xây dựng lại sự nghiệp từ con số zero, khi tuổi đã gần 60.

Anh tâm sự,” không phải là thiếu cơ hội hay possibilities để có một cuộc sống thanh lịch, một công việc hứng thú hay một tình cảm sâu đậm. Nhưng xã hội và con người Việt Nam đã biến chất dưới ”văn hóa” mới”, du nhập từ Tàu, trên căn bản “dối trá và ngu dốt”. Môi trường sống cũng bị ô nhiễm trầm trọng, từ không khí, rác rưởi…đến thực phẩm, giải trí… Chưa bao giờ em cô đơn đến vậy trên đất nước của mình”.

“Em nhớ ông Trịnh Công Sơn có chửi xã hội VNCH ngày xưa là…gia tài của mẹ, một bọn lai căng, một lũ bạc tình...nên ông chọn ở lại với chế độ mới. Trước khi mất, không biết ông có ngẫm nghĩ về những lời quả báo cho chính ông?”

Một người bạn khác chia sẻ từ Florida,” Với tôi Việt Nam chỉ còn là giấc mơ đẹp của quá khứ và không có triển vọng gì nhiều nếu không có đổi máu toàn diện và sẽ còn tụt hậu thêm trong 10-20 năm còn lại của đời mình. Vì vậy tôi quyết định dành thì giờ sắp đến cho mình và gia đình mình, lo cho đám con nhỏ.” Mười năm trước, dù đang hưởng lương cao ở Mỹ, anh về Việt Nam với hy vọng về những đóng góp thực tiễn; cũng như được bơi tắm lại trong dòng sông của tuổi nhỏ. Chắc anh cũng cô đơn và thất vọng như những người khác.

&&&&&

Có lẽ tôi và những người như anh sống ở Mỹ quá lâu, tiêm nhiễm cái văn hóa “mọi thứ đều thay đổi…và càng thay đổi nhiều,càng nhanh chóng tìm ra giải pháp”. Đó là sự lạc quan có thể là phi lý của người Mỹ, khi họ chỉ biết nhìn về tương lai và những possibilities; không phải bám víu vào những thảm kịch, thù oán hay xác chết của quá khứ.

Cách đây vài tháng, tôi được mời dự bữa tiệc gây quỹ của một ứng viên Thượng Nghị Sỹ thuộc đảng Cộng Hòa. Trong bài diễn văn tại bữa ăn,ông ta ca ngợi chính sách khôn ngoan của Nixon-Kissinger trong việc bắt tay với Trung Cộng, thể hiện qua những thành quả kinh tế của Mỹ Trung và cho rằng hòa bình và thịnh vượng quốc tế đã tùy thuộc nhiều vào chiến lược này. Ông ta nghĩ rằng chính sách hiện tại của Obama-Kerry  tại Việt Nam sẽ đem một hệ quả tương ứng.

Ông nói,” chúng ta phải quên quá khứ và biến thù thành bạn. Chúng ta phải mở cửa đón mời những bạn mới này để cùng nhau phát triển và hưởng lợi”.

Ông gặp riêng tôi sau đó, nhờ tôi đứng ra tổ chức vài bữa tiệc gây quỹ trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Tôi cười, “tôi không biết là có thu tiền được hay không; nhưng tôi chắc sẽ có nhiều trứng thối và cà chua rotten đón chào chính sách này của ông”. Sau đó, tôi gởi email cho ông những tấm hình khắp xứ Việt về những bia căm thù và những bảo tàng tội ác Mỹ-Ngụy. Kể cả một video link phỏng vấn ông Hoàng Phủ Ngọc Tường về lòng căm thù chất ngất trời xanh của ông ta và dân Huế với Mỹ; khi bào chữa về  trận thảm sát Tết Mậu Thân của các đồng chí bộ đội.

Trong khi đó, mặc dù quân Trung Cộng giết hơn 62 ngàn người Việt chỉ trong vài tuần tại biên giới Trung-Việt năm 1979, dân Tàu vẫn là thượng khách, vẫn là anh em bằng hữu, tuy hai mà một, tay trong tay xây dựng XHCN mới cho thế hệ tương lai. Thay vì bia căm thù, bảo tàng tội ác, người Việt chỉ có tượng đài tôn vinh Hán kiều khắp nơi.

Tôi kết luận với ngài Nghị Sỹ,” Trong khi chúng ta sẵn sàng thay đổi để cùng xây dựng một hợp tác bền vững và chân thật, dường như đối tác của chúng ta không bao giờ muốn thay đổi. Họ đang quá ‘hạnh phúc với quyền lực và quyền lợi’; và nếu cần, chỉ thay đổi vài câu tuyên bố cho phù hợp với những lời cầu xin. Dân Việt đã ngây thơ 70 năm, có lẽ các chính trị gia Mỹ sẽ hết ngây thơ sau 30 năm nữa. Trong khi đó, con sói vẫn đi săn mồi theo phương cách duy nhất mà bản năng nó đã dậy.”

&&&&&

Nhiều bạn chê trách là lúc này ông già Alan hay bi quan quá. Tôi nghĩ khi yên tĩnh ngồi dưới bóng mát nào đó của tâm hồn, chúng ta mới có một góc nhìn tổng quan, không khuấy động. Những sự thật có thể hơi chua chát, nhưng dối trá với chính mình là một điều tồi tệ hơn dối trá với tha nhân.

Cũng trong chiều hướng nhìn mọi góc cạnh, tôi phải công nhận vài điều hiển nhiên:

-          Là một quốc gia còn nằm dưới tầng cấp của nghèo khổ (thu nhập chỉ có thể cao hơn) và với một thị trường 90 triệu dân (hạng 14 thế giới), cơ hội để kinh doanh và lập sự nghiệp ở Việt Nam nhiều vô số kể. Tuy nhiên, những người Việt không có lý lịch tốt (COCC, tuổi đảng, quan hệ chính trị, con chốt sân sau…) hay tư duy CNXH sẽ phải chịu vất vả, thử thách và tham nhũng; nên tỷ lệ thành công gần như vô vọng.

-          Dưới góc nhìn của một nhà đầu tư nước ngoài thuần túy (FDI), không mang những cảm xúc viển vông của một người gốc Việt, thì môi trường làm ăn tại Việt Nam vô cùng triển vọng. Chi phí điều hành rẻ nhiều so với các quốc gia đối thủ, nhất là những dự án cần nhiều đất đai, nhân công, ô nhiễm, công nghệ cũ…Ngoài ra, cơ chế đặc thù của tham nhũng và pháp luật tại Việt Nam cho phép những biệt lệ khó tìm ở nơi khác.

-          Vì sống thường trực dưới những kềm kẹp bức xúc, một số đông bạn trẻ thành thị biết tạo nên những kỹ năng bén nhậy để vươn cao, biết sáng tạo để vượt qua tình thế (từ giáo dục đến bộ máy công quyền) mong tìm một tương lai “sống được” cho mình và gia đình. Đôi khi những kỹ năng này mang nhiều thủ đoạn, lừa lọc…nhưng nói chung, nếu có một lối đi sáng sủa, chắc chắn trí thông minh và sáng tạo của người trẻ Việt sẽ chói rạng (miễn là đừng sống trong một thời đại ‘rực rỡ’ quá của lịch sử như các quan thích nổ).

&&&&&

Tuần rồi, nam California bỗng bừng lên một đợt nóng còn ngột ngạt hơn những ngày hè. Có lẽ đây là báo hiệu cuối cùng là chỉ còn vài tuần nữa thôi, gió thu lại hiu hiu quay lại. Mùa thu của những ảo vọng, dù thơ mộng thiết tha, nhưng cũng chỉ là ảo vọng. Dù mong ước thế nào, những tấm lòng Việt của thời hoa bướm ngày xưa, ở trong nước hay hải ngoại, cũng đều phải tha hương nhìn về cố quốc với nhiều ngậm ngùi.

Trong mùa thu lá phải vàng, phải bay và phải thành tro bụi trong mùa đông…để những lá xanh có thể mọc lại trong mùa xuân. Đó là chu kỳ sáng tạo và hủy diệt của thiên nhiên. Nhưng có lẽ trong nhãn quan của phần lớn quan chức Việt, chúng ta cứ thoải mái chặt cây xanh kiếm tí tiền lẻ đã…thiên nhiên và tuổi trẻ có thể đợi…vài ba thế kỷ.

27-of-the-most-romantic-quotes-to-use-in-your-wedding-cuongphanphotography_co__uk-quote

Alan Phan

(Blog Alan Phan)

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Kinh Tế Thị Trường và Tôn Giáo

 Đức Giáo Hoàng Francis nên vận dụng kinh tế cho mục tiêu xã hội


Người viết này thường tránh nói đến tôn giáo vì kém hiểu biết về cảm quan và ấn tượng của con người trong các vấn đề tín ngưỡng. Nhưng, trong chuyến Mỹ du của đức Giáo Hoàng Francis, có một vấn đề kinh tế được đặt ra, mà vì kinh tế cũng là chính trị, nên đề tài kỳ này sẽ là chuyện kinh tế thị trường và đức tin tôn giáo.

Về triết lý kinh tế chính trị học, Đức Giáo Hoàng Francis có thể được liệt vào cánh tả, liberal theo giác độ Hoa Kỳ, trong ý nghĩa là ngài quan tâm đến công bằng xã hội, chú trọng đến nhược điểm của tư bản chủ nghĩa, và ưu lo cho số phận của dân nghèo, thành phần đa số trong mọi xã hội. Đây là một niềm tin xuất phát từ một động lức đáng kính trọng. Về triết lý xã hội chính trị, ngài cũng thuộc thành phần cấp tiến, có cái nhìn khoan hồng về cách ứng xử của con người với các khái niệm đạo lý, như việc ly dị hay thậm chí hôn nhân giữa người đồng tính. Đây cũng là một quan điểm phóng khoáng khiến ngài gặp phản ứng của hàng tăng lữ bảo thủ.

Người viết này thông cảm với quan điểm xã hội đó của vị lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ. Nhưng hoài nghi về quan điểm kinh tế của ngài.

***

Như Winston Churchill đã nói về nền dân chủ, là “chế độ ít tệ nhất trong dăm ba thể chế chính trị mà con người đã thử nghiệm,” tư bản chủ nghĩa cũng là chế độ kinh tế ít tệ nhất trong các chế độ con người đã áp dụng - từ kinh tế thần linh vào buổi hoang sơ đến loại kinh tế tập quán, đời trước làm sao đời sau làm vậy. Tư bản chủ nghĩa vận dụng quy luật thị trường để giải quyết bài toán khan hiếm của loài người và tạo ra những tiến bộ chưa từng thấy kể từ cả trăm thể kỷ vừa qua.

Xin ghi thêm rằng “tiến bộ” ấy có nghĩa là nhân loại ít bị nghèo khốn hơn xưa mà không do việc ban phát trợ cấp của một lãnh tụ anh minh hay một đấng thần linh hào phóng.

Những ai quan tâm đến kinh tế sử có thể kể rằng từ hậu bán thế kỷ 19, khi chủ nghĩa tư bản áp dụng quy luật thị trường một cách phổ biến từ Âu Châu qua Bắc Mỹ, cuộc sống vật chất của con người được cải thiện, nhiều người ra khỏi tình trạng đói khổ truyền thống, tuổi thọ con người được kéo dài, trình độ học vấn được nâng cao cho đại đa số. Lợi tức, tuổi thọ và học vấn là các tiêu chuẩn thuộc loại vật chất, nhưng có nâng cao giá trị tinh thần của đời sống. Còn giá trị tâm linh, hay tín ngưỡng, lại là chuyện khác và thuộc phạm vi của giới lãnh đạo tôn giáo.

Khi Đức Giáo Hoàng Francis than phiền về tình trạng đói khổ và bất công trên thế giới hiện này, và coi đó một tai họa mà Giáo Hội cần góp phần giải trừ, ngài bày tỏ lòng từ tâm đáng quý. Nhưng khi ngài kết án sự mù quáng của tư bản chủ nghĩa, “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường, hoặc tác hại của nguyên tắc tự do kinh doanh, Đức Thánh Cha có thể đã lầm về tương quan nhân quả.

Có lẽ, ban tham mưu về kinh tế chính trị của ngài không làm tròn nhiệm vụ giải thích sự thể thực tế của nhân sinh. Và cứ theo đà này, có khi ta lại thấy sự hồi sinh tai hại của việc nhà nước hay một cơ chế cao cả nào đó can thiệp vào thị trường để cứu giúp dân nghèo. Lý do bi quan ở đây là chính Đức Giáo Hoàng đã phát biểu rằng giá trị của kinh tế thị trường chưa hề được chứng minh bởi thực tế, và rằng dù hiện tượng toàn cầu hóa có đưa nhiều người ra khỏi sự cùng quẫn, thì cũng dìm nhiều người vào nạn đói. Ngài còn cho rằng dù mức thịnh vượng toàn cầu có gia tăng, nhưng nạn bất công và nghèo khốn cũng vậy.

Rất nhiều tay lý luận thiên tả sẽ vin vào uy tín của vị chủ chăn hoàn vũ mà kết luận rằng kinh tế thị trường hay trào lưu toàn cầu hóa đã gia tăng mức nghèo khổ và làm nhiều người chết đói.

Nhiều định chế quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới, hay quốc gia như các trung tâm nghiên cứu chuyên biệt đều cho thấy rằng kể từ cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ vào thế kỷ 18 cho đến khi Thế kỷ 21 được 15 tuổi, tình trạng bất công toàn cầu về kinh tế đã giảm sút đáng kể. Một cách cụ thể hơn thì xứ Hoa Kỳ mà Đức Giáo Hoàng thăm viếng tuần này là nơi mà, cách nay nửa thế kỷ, lợi tức trung bình của người dân được ước lượng là gấp 11 lần lợi tức tiêu biểu của dân Á Châu. Ngày nay, khoảng cách đáng tởm ấy chỉ còn gấp 4.8 mà thôi. Chỉ vì từ quãng 1960, các nước Á Châu đã áp dụng quy luật thị trường trong chánh sách kinh tế. Họ chuyển hướng theo nguyên tắc tự do.

Sau các nước Á Châu, Trung Quốc đi trễ mất hai chục năm sau 30 năm đòi cào bằng tất cả để thực hiện lý tưởng công bằng xã hội. Cũng chế độ này mới nhân danh nhu cầu bảo vệ thành phần nghèo khốn mà điều hướng thị trường bằng bàn tay thô bạo của nhà nước, và dẫn tới chủ nghĩa tư bản thân tộc và nạn bất công phổ biến. Đức Thánh Cha không thể dùng phép quy nạp mà kết án quy luật thị trường vì điều ấy mặc nhiên biện minh cho sự can thiệp với viễn ảnh là “giải pháp Bắc Kinh.”

Năm xưa, một nhà nhân khẩu học bậc thầy của nước Pháp là Alfred Sauvay từng lý luận rằng mô hình tập trung quản lý theo kiểu Xô viết quá thành công nên sẽ khiến Liên Xô sản xuất thừa lúa mì và sẽ phát không bánh mì cho mọi người. Lịch sử đã minh chứng sự nông cạn của lý luận này qua việc Liên Xô sụp đổ. Còn kinh tế chính trị học lớp đồng ấu thì cho biết rằng nếu dư ngũ cốc thì người ta nuôi thịt chứ không thể có chuyện phát không như vậy.

Lý tưởng “bánh mì miễn phí” ấy vào thời Stalin có thể là một quyến rũ tôn giáo, nhưng bị thực tế phủ nhận. Chế độ Xô Viết tan rã và Trung Quốc xuất hiện với một giải pháp hấp dẫn hơn: Nhà nước điều tiết thị trường cho mục tiêu công bằng xã hội. Giải pháp ấy vừa tự chứng minh tính chất viển vông khi các đại gia Trung Quốc đều hạ cánh ở nước ngoài, với đầy đủ tài sản và con cái!

Nhưng chúng ta chưa vội mừng về sự lầm than của trí tuệ.

Chỉ vì cùng với nỗi quan ngại chính đáng của Đức Giáo Hoàng, ta đang thấy tái sinh trào lưu “xã hội chủ nghĩa” tại hai nước tiên phong của tư bản chủ nghĩa. Đó là việc “đồng chí” Jeremy Corbyn vừa lên lãnh đạo đảng Lao Động Anh, như một tiếng vang của việc “đồng chí” Bernie Sanders đang ra tranh cử tổng thống từ cánh cực tả của đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ. Cũng với lý luận cào bằng và lấy của người giàu chia cho nhà nghèo, họ thể hiện tinh thần bác ái từng gieo họa cho nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa trong quá khứ.

Nếu lại châm thêm yếu tố môi sinh vào bài toán kinh tế - một đề mục khác cũng được đức Thánh Cha nhấn mạnh - chính là các quốc gia đã cho nhà nước thọc tay vào thị trường mới gây ra nạn ô nhiễm môi sinh trầm trọng nhất mà ngài đang nói tới.

Kết luận ở đây là dường như đức Thánh Cha đã vạch ra lằn ranh đối lập tinh thần hay đạo lý giữa những ai tin vào kinh tế thị trường và những người quan tâm đến sự nghèo khốn. Điều ấy sai vì kinh tế thị trường không tạo ra sự nghèo khốn mà còn góp phần đẩy lui nạn bần cùng trong xã hội. Những người thành công trong nền kinh tế ấy có thể và nên quan tâm đến dân nghèo, ở mọi nơi, và họ có các hội thánh hay hội thiện để giải quyết nhu cầu này. Còn lại, ta rất nên hoài nghi những kẻ nhân danh dân nghèo mà làm xứ sở lụn bại.

Đức Thánh Cha vừa gặp họ tại Cuba.

Nguyễn-Xuân Nghĩa

(Người Việt)

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

Hội chứng dựa dẫm

Đất đai đang là lĩnh vực phát sinh dạng dựa dẫm cơ hội, khi thông tin chỉ được ban phát cho số ít người. Ảnh: Mạnh Tùng
Xưa nay sự dựa dẫm đã quá quen thuộc trong hầu hết mối quan hệ từ gia đình đến xã hội và cả quan hệ làm ăn. Khi con cái còn nhỏ chưa vào đời phải nhờ sự bảo bọc của cha mẹ cũng là chuyện bình thường, đó không chỉ là nguồn vui của cha mẹ mà còn là nguồn sống của con. Nhưng sẽ không có gì để tự hào về những đứa con đã trưởng thành mà vẫn dựa dẫm vào gia đình về mọi phương diện, từ công ăn việc làm, dựng vợ gả chồng cho đến thăng tiến trong công việc. Tập quán nuôi gà công nghiệp này, xã hội phương Đông còn nhiều, chứ phương Tây đã ngày càng ít đi, con cái thoát ly dần ảnh hưởng của cha mẹ, tự định hướng cho đời mình.

Trong tình hình làm ăn của doanh nghiệp chúng ta hiện nay thì sao? Nhiều người cho rằng sự dựa dẫm là một điều kiện không thể thiếu được và đã trở thành hội chứng. Dựa dẫm thì khó độc lập vì lúc nào cũng có sự trao đổi. Cho dù núp bóng dưới tên gọi nào đi nữa thì khi dựa dẫm cũng phải nghĩ đến cái giá phải trả là bao nhiêu, trả trước hay trả sau và không nên mơ hồ về điều này.

Cuộc sống dạy cho chúng ta một điều rằng chẳng có ai đem tiền bạc biếu không cho người dưng thiên hạ nếu không phải là những người làm từ thiện, mà ngay làm từ thiện họ cũng hưởng được cái “lợi” là tìm được niềm vui. Thế cho nên dựa dẫm chỉ có giá trị tích cực là khi mượn thế và lực của người khác để thực hiện ý muốn của mình bằng một cái giá chấp nhận được, nhưng sẽ là tiêu cực nếu sau khi đạt được mục tiêu rồi mà không đủ tự tin vào nội lực để thoát khỏi sự lệ thuộc. Trong nhiều trường hợp đó là bước đầu trở thành tù binh của các nhóm lợi ích.

Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp sống bằng sự dựa dẫm lại có khả năng làm trung gian kết nối các phe nhóm có quyền lợi khác nhau, phá vỡ cả trật tự quản lý, để tất cả trở thành đồng minh chiến lược của nhau.

Khi doanh nghiệp quốc doanh ỷ lại và lệ thuộc vào Nhà nước không chỉ đồng vốn, các chính sách ưu đãi về phân bổ tài nguyên quốc gia thì doanh nghiệp tư doanh cũng phải tìm đất sống cho mình. “Nhất thân nhì thế” không chỉ là tập quán trong quan hệ xã hội mà đã thâm nhập sâu vào quan hệ làm ăn và mức độ ngày càng tinh vi với những bảo lãnh, những chống lưng của các quan chức đương nhiệm hay đã hạ cánh an toàn, rõ nét nhất là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, nơi mà dựa dẫm đã trở thành sự tương tác lợi ích. Hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp không lớn lên bằng nội lực bản thân mà dựa vào ô dù, phe nhóm để làm giàu trên đôi vai gầy của nền kinh tế.

Nhưng suy cho cùng thì thể chế nào tạo ra doanh nghiệp nấy. Thể chế quyết định việc tổ chức bộ máy hành chính, sử dụng con người, quản lý mọi hoạt động xã hội. Chuyên gia kinh tế Vũ Quốc Tuấn cho rằng doanh nghiệp chúng ta đang vận hành trong một “thể chế sáu không”: không nhất quán, không lành mạnh, không thông suốt, không đồng bộ, không khả thi và không tiên liệu. Trong khi đó, Nhà nước lại ôm đồm những việc ngoài chức năng quản lý và vẫn còn dị ứng với các tổ chức xã hội có thể chia sớt gánh nặng cho mình. Sống trong không gian ấy thì các doanh nghiệp phải dựa thế dựa thần để tồn tại là điều dễ hiểu.

Vậy thì có mấy dạng dựa dẫm phổ biến? Một là các đại gia tầm cỡ biết dựa vào sự không minh bạch để tìm cơ hội làm giàu. Trúng thầu một dự án, ôm được một công trình lớn hay mua một khu đất, làm một con đường, đều là cơ hội biến đất thành vàng, lấy vàng đổi đất, được ban phát từ những người, những cơ quan biết rõ thông tin và có quyền ban phát. Đây là dạng dựa dẫm cơ hội, anh cho tôi cơ hội tất nhiên tôi biết điều với anh, không chỉ để cùng làm ăn lâu dài mà qua đó hình thành những nhóm lợi ích.

Hai là các doanh nghiệp thường thường bậc trung biết tận dụng sự gian dối để tồn tại. Luật pháp và các quy định không rõ ràng nhất quán là điều kiện cho gian dối sinh sôi nảy nở, không gian dối thì làm sao có tiền để chung chi, có chung chi đều đặn thì mới tạo được quan hệ lâu dài trong quỹ đạo làm ăn không minh bạch. Cái vòng tròn khép kín ấy như chuyện “cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”, cả hai dựa vào sự gian dối để cùng nhau sống khỏe, doanh nghiệp có thể giàu nhưng nền kinh tế hao dần nội lực.

Loại thứ ba chiếm nhiều nhất trong số doanh nghiệp nhỏ và vừa. Kinh doanh trong “cơ chế đèn vàng”, cái xấu cái tốt đan chen, thế nào là đúng, thế nào là sai đôi khi cách nhau chỉ một lằn ranh nhỏ. Cho dù mình không làm điều gì sai trái nhưng biết đâu quét nhà lại chẳng ra rác, thôi thì hay nhất là đi tìm sự an toàn và tránh phiền hà bằng cách dựa dẫm vào những người, những cơ quan có quyền hành đủ gây khó cho mình. Đây là loại dựa dẫm vì sợ, chẳng liên quan gì đến việc đi tìm cơ hội hay gian dối làm ăn.

Thế nhưng sự dựa dẫm không chỉ có một phía. Quan chức là người có quyền nhưng quyền đó không thể chuyển đổi thành tiền vậy là phải dựa vào doanh nghiệp. Giá trị thặng dư doanh nghiệp có được thông qua quyền ban phát của quan chức chính là công cụ biến quyền lực thành đồng tiền. Đó là chưa kể trong nhiều trường hợp doanh nghiệp sống bằng sự dựa dẫm lại có khả năng làm trung gian kết nối các phe nhóm có quyền lợi khác nhau, phá vỡ cả trật tự quản lý, để tất cả trở thành đồng minh chiến lược của nhau.

Vậy thì doanh nghiệp có đáng trách không khi tập quán dựa dẫm đã trở nên phổ biến trong đời sống kinh doanh. Hay chính thể chế là tác nhân gây ra hội chứng này?

Ông Khổng Tử bên Tàu nói rằng: “Ở chung với người thiện như vào nhà có cỏ chi lan, lâu ngày mà chẳng thấy mùi thơm tức là mình đã hóa ra thơm vậy. Ở chung với người bất lương như vào trong chợ cá ươn, lâu mà không biết mùi hôi vì mình cũng đã hóa ra hôi rồi”. Câu nói gần 2.500 năm trước đây vẫn còn là một bài học cho người đương thời.

Sống trong một thể chế kinh tế nhiều khuyết tật, các giá trị bị đảo lộn, mạnh được yếu thua, doanh nghiệp đàng hoàng nhưng yếu thế thì phải tìm cách thích nghi để tồn tại, như bầy cá đang bơi trong dòng nước đục thì hoặc phải uống nước bẩn để sống hoặc chết dần vì không chịu nổi ô nhiễm môi trường. Vấn đề là làm sao cho dòng nước ngày càng sạch để cho bầy cá sống khỏe. Điều khó khăn nhưng phải làm là dũng cảm vượt lên chính mình, thoát ra khỏi cái vòng kim cô “đặc thù Việt Nam” để cải cách thể chế cho phù hợp với tình hình hội nhập sâu rộng hiện nay.

Trần Trọng Thức

(Thời báo Kinh tế Sài gòn)