Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình Luận - Quan Điểm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình Luận - Quan Điểm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

Vũ Thư Hiên - Thân phận trí thức trong xã hội Cộng Sản (Đọc "Tùy Tưởng Lục" của Ba Kim)

Thường khi gặp được một cuốn sách hay là tôi phải đọc một lèo. Có khi thức trắng đêm đọc cho bằng xong. Chưa xong thì trong người cứ anh ách, ngủ không yên. Lâu ngày thành cái tật, sửa không được.

Thu Hien Vu
Nhà văn Vũ Thư Hiên
Cuốn Tuỳ Tưởng Lục tôi đang có trong tay là của một bạn văn trong nước gửi cho. Thỉnh thoảng anh vẫn gửi cho tôi một thứ gì đó, đại loại như trà Tân Cương, cốm Vòng, hoặc tinh dầu cà cuống thứ thiệt, kèm theo một lời nhắn. Thư thì không, tuyệt nhiên. Anh không giấu giếm rằng anh nhát. Lần này có người tin cẩn anh lại gửi quà – một cuốn sách. Chúng tôi chơi với nhau đã nửa thế kỷ, người nọ thuộc tính người kia, tôi không giận anh. Anh cho quà là quý rồi. Anh biết chắc tôi sẽ thích món quà của anh.

Mà thích thật. Trước hết, đó là cảm giác gần gụi của thân phận tác giả với thân phận người đọc, của sự đồng cảm. Cứ đọc xong một bài, có khi chỉ một đoạn, lại phải đặt sách xuống, thừ người ra mà ngẫm nghĩ. Có chỗ, ứa nước mắt.


Thích thì thích, nhưng tôi đã không đọc nổi Tuỳ Tưởng Lục của Ba Kim một mạch. Chắc nó cũng có sức lôi cuốn tương tự với những ai từng sống trong xã hội cộng sản và có một chút trăn trở về xã hội ấy: nó thật sự là cái gì vậy? nó có xứng với ta, với con người, không? liệu nó còn tương lai không?

Tuỳ Tưởng Lục là lời tâm sự thật thà của một trí thức háo hức đi tìm chân trời mới rồi lớ ngớ thế nào lại thấy mình rơi tõm xuống địa ngục. Trong Tuỳ Tưởng Lục có đủ nỗi nhục nhằn tinh thần và những mất mát làm trái tim suốt đời rỉ máu, không kể đến những đớn đau thân xác.

Tuỳ Tưởng Lục, bản tiếng Việt (nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) là một tập những bài viết của Ba Kim trong tuổi trên 80, nghĩ gì viết nấy, không câu nệ thể loại, đề tài. Hai dịch giả danh tiếng – Trương Chính và Ông Văn Tùng – tự chọn các bài để dịch. Sự chọn lựa của hai ông rất khéo: vừa đủ để người đọc được biết về một thảm họa xảy ra ở nước láng giềng đã nhiều năm, nhưng vì bị bưng bít nên không ai biết vân mòng nó ra làm sao, đồng thời cũng tránh được cơn giận dữ ở các bậc quyền cao chức trọng dễ chạnh lòng.

Tuỳ Tưởng Lục nguyên bản tiếng Hoa là một tác phẩm đồ sộ, gồm 5 tập, không rõ bao nhiêu trang, tập đầu in năm 1978, tập cuối in năm 1986. Những bài được chọn để dịch đều ít nhiều dính dáng tới cuộc “Ðại Cách mạng Văn hoá Vô sản” kéo dài mười năm – từ 1966 đến 1975 (1) . Người Việt nào từng chịu đựng cuộc Tiểu cách mạng văn hoá vô sản ở Việt Nam (nó không có tên gọi, kéo dài và âm thầm) sẽ tìm thấy trong Tuỳ Tưởng Lục (bản dịch) những lý giải cho câu hỏi: vì sao nên nỗi?

Những nghiên cứu khoa học cho ta biết trong trí nhớ của con người có một bộ lọc kỳ diệu. Nó thường xuyên xóa đi giúp ta những hình ảnh xấu, những kỷ niệm buồn. Không có cái bộ lọc ấy thì cuộc sống con người khốn nạn lắm. Thật vậy, tôi cũng thường quên những điều tồi tệ, chỉ những kỷ niệm đẹp mới được ghi lại. Tác giả Tuỳ Tưởng Lục chắc cũng không khác. Không thế, không sống nổi.

Vậy mà, với Tuỳ Tưởng Lục Ba Kim lại chống cái trí nhớ có lợi cho con người ấy. Trải qua những năm tháng bị dập vùi, ngẫm lại thân phận mình và thân phận đồng bào trong cái xã hội “không thể tưởng tượng nổi,” ông kêu gọi mọi người không được quên cái Ác và tội của nó. Quên là chết. Nhớ thì đau đấy, khổ đấy, nhưng phải khắc cốt ghi xương, rằng nó đã có, cái Ác ấy, nó hằng có, lúc tiềm tàng, lúc hiện diện, cho nên phải luôn cảnh giác với nó, để mặc nó lộng hành thì con người không thể nào có được cuộc sống yên lành. Phải chặn đứng cái Ác khi còn chưa muộn, phải trói nó lại, cách ly nó khỏi đời sống, tìm mọi cách tiêu diệt nó. Không thể để lũ ác nhân cứ tự do hoành hành, tác yêu tác quái, rồi bất kể hậu quả là thế nào, chúng cứ nhơn nhơn lớn lối với bàn dân thiên hạ, coi như không có chuyện gì xảy ra, chỉ có mình chúng là duy nhất đúng đắn, là vô cùng sáng suốt: “Thành tích là căn bản, sai lầm là nhất thời.” Ðối với lũ ác nhân đội lốt thiên thần dường như cứ đạt được một thành tích nào đó, dù chỉ trong tưởng tượng, thì cái gì cũng được phép. Ðánh người tuỳ thích. Giết người tha hồ.

Gần ba chục năm đã trôi qua kể từ hạo kiếp của Ba Kim kết thúc. Nhưng ông lúc nào cũng bị dằn vặt bởi câu hỏi: lấy gì bảo đảm rằng vào một lúc nào đó, lại không có một tên nào đó, hoặc vài ba tên nào đó, hoặc cả một lũ một lĩ nào đó, sẽ lặp lại lần nữa, hoặc hơn một lần nữa, cái cuộc thiên hạ đại loạn từng đẩy ông, các bạn ông, và không biết bao nhiêu người Trung Quốc hiền lành vô tội khác, xuống địa ngục?

Trong một bài nói chuyện với giới văn hoá ở Nhật (trong bài không ghi rõ ngày tháng, nhưng chắc chắn là phải sau 1975), Ba Kim cảnh báo: “Mười năm đại hoạ đó là sự việc lớn trong lịch sử loài người, chẳng những dính líu đến chúng tôi, mà còn dính líu đến tất cả loài người”. Nếu Ðại cách mạng văn hoá vô sản không xảy ra ở Trung Quốc ắt phải xảy ra ở một nước nào khác, ông nói thế.

Ba Kim đúng. Ðúng ở chỗ ông đã nói ra. Nhưng ông cũng sai. Sai ở chỗ ông biết mà không nói hết.

Ðúng là cuộc Ðại cách mạng văn hoá vô sản không phải chỉ là bài học cho một nước. Nó là bài học chung cho cả loài người. Chưa kể những nơi mà nó khơi dậy những tiểu cách mạng văn hoá vô sản như ở Việt Nam và Cambodia. Ở đó những di hoạ khủng khiếp của nó không biết đến bao giờ mới tiệt nọc. Cái họa này lớn hơn ta tưởng nhiều. Nó lớn ở chỗ người trong cuộc không nhận ra nó khủng khiếp tới mức nào, đừng nói gì người ngoài. Mà không phải chỉ ở những nơi nào nó diễn ra mới chịu hậu quả tai hại. Cứ xem châu Âu của truyền thống dân chủ và tự do trong thập niên 60 thế kỷ trước thì thấy. Hồi ấy đã có bao nhiêu trí thức châu Âu hoan hỉ chào mừng những cuộc “vận động” của những “mao-nhiều” Trung Quốc, cứ như thể dưới bóng lá cờ năm sao đang diễn ra một cuộc đổi đời thật sự, biến mọi sự xấu thành tốt. Ðã có bao nhiêu người ở khắp thế giới này hướng về Thiên An Môn với hi vọng được thấy một thế giới mới sẽ từ đó toả ra khắp năm châu bốn biển? Và cho tới hôm nay rải rác đâu đó vẫn còn những “mao ít” mang huy hiệu Mao Trạch Ðông trên ngực, miệng hô: “Cái thế giới này phải cải tạo bằng khẩu súng trường,” (2) tay trói du khách đem đi giấu để đòi tiền chuộc.

Ba Kim sai, ở chỗ nơi “Ðông phương hồng, mặt trời lên, Trung Hoa chúng ta có Mao Trạch Ðông” không phải chỉ có một cuộc Ðại cách mạng văn hoá vô sản. Trước nó đã có hết cuộc “vận động” này đến cuộc “vận động” khác, và như một quy luật, cuộc “vận động” nào cũng kết thúc bằng một địa ngục, không phải cho người này thì người kia. Ai theo dõi tình hình Trung Quốc cận đại cũng biết rằng trước cái đận Ba Kim và các trí thức đi theo đảng cộng sản bị hạ ngục, bị trấn áp, đã có biết bao nhiêu nạn nhân thuộc các thành phần khác: đảng viên Quốc dân đảng, viên chức chính quyền cũ, tư sản, địa chủ… và những người được gọi bằng cái tên chung “phản động.” Số người bất hạnh ấy là bao nhiêu không ai biết. Ðảng cộng sản không thống kê. Chẳng ai được quyền thống kê hết. Nhưng không phải vì thế mà Ba Kim được quyền quên những người ấy. Hoặc tảng lờ như họ chưa từng sống trên đời. Họ cũng là người chứ. Chẳng lẽ ông, với tư cách nhà văn, chứng nhân của những gì xảy ra quanh mình, lại có thể phớt lờ một sự thật rành rành rằng ở Trung Quốc mọi cuộc “vận động” “xây” cái này, “chống” cái kia, bao giờ cũng đi kèm với trống rong cờ mở ban đầu và kết thúc thắng lợi với máu chảy, người chết. Lệ là thế. Không thế không phải là cách mạng. Theo đúng lý thuyết của họ Mao.

Ba Kim được các nhà phê bình văn học bản địa coi là một trong bốn cây đại thụ của nền văn học Trung Quốc (ba người kia là Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Quách Mạt Nhược). Cách đánh giá của họ không có sự đồng thuận ở bên ngoài Trung Quốc. Nhưng đánh giá theo cách nào thì Ba Kim cũng là một nhà văn lớn. Ông tên thật là Lý Nghiêu Ðường, tự Phế Cam, người tỉnh Tứ Xuyên, con nhà giàu có, từng du học Pháp. Năm 23 tuổi, khi còn là học sinh trường trung học La Fontaine ở thị trấn Chateau-Thierry, ông viết cuốn tiểu thuyết đầu tay Diệt Vong, được độc giả rất hoan nghênh. Từ năm 1930-1949 ông viết nhiều (Ái Tình Tam Bộ Khúc, Kịch Lưu Tam Bộ Khúc), dịch cũng nhiều.

Sau năm 1949, sau khi lục địa Trung Hoa hoàn toàn bị nhuộm đỏ, Ba Kim cũng như rất nhiều văn nghệ sĩ khác, đã đi theo đảng cộng sản. Tự nguyện hoàn toàn. Một lòng một dạ. Với tất cả tâm hồn hướng thiện nồng cháy. Tuy nhiên, Ba Kim viết ít hơn hẳn so với trước. Nhà trí thức Ba Kim không theo kịp (hay đã cố gắng mà không sực nổi) những khẩu hiệu “Quán triệt phương hướng phục vụ công nông binh, phục vụ chủ nghĩa xã hội,” “thực hiện phương châm “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng,” “Tiến hành phương pháp chủ nghĩa hiện thực cách mạng kết hợp với chủ nghĩa lãng mạn cách mạng”… Nào có phải chỉ có những khẩu hiệu rổn rảng mà thôi. Theo sau chúng là những cuộc đấu tranh có máu. Nào “Phê phán phim Vũ Huấn” (1951), “Phê phán cuốn ‘Nghiên cứu Hồng Lâu Mộng’ của Du Bình Bá”, “Phê phán quan điểm duy tâm của Hồ Thích” (1954), “Chống tập đoàn phản cách mạng Hồ Phong” (1955), “Chống phái hữu trên mặt trận văn nghệ” (1957), “Chống “chủ nghĩa xét lại” (1959). Ðây là chỉ nói về các cuộc “vận động” nhằm nện cho trí thức nhừ tử. Chứ còn tư sản, địa chủ thì Mao chủ tịch và các đồng chí của ông ta đã quét sạch sành sanh.

Tất cả sự tàn nhẫn của đảng cộng sản đối với trí thức, xét cho cùng, chỉ có mục đích bắt họ phải khuất phục đảng vô điều kiện. Nhưng chưa phải thế đã đủ, những cuộc “vận động” kia hoá ra mới chỉ là khúc nhạc dạo cho một cuộc “cách mạng” còn tàn bạo và gớm ghiếc gấp bội.

Tên của nó là “Ðại cách mạng văn hoá vô sản.”

Tháng 8 năm 1966, đùng một cái, Ba Kim rơi xuống địa ngục.
Ông tả lại: “… Tôi thật giống như một du hồn bị đưa đến ‘Thập điện Diêm Vương.’ Mỗi chuyện tôi làm trong quá khứ đều bị nêu ra, từng cái một, để bỏ tôi vào vạc dầu mà tra tấn, mà thay xương đổi thịt! Mười bức vẽ đưa vong linh đi qua thập điện Diêm Vương, âm khí thê thảm, máu chảy đầm đìa, không biết mình là người hay là quỷ, là thú vật hay hồn ma, xuống âm ty hay đã xuống địa ngục rồi. Bấy giờ Tiêu San (3) còn sống, sáng dậy tôi mở mắt, nghe tiếng nàng, tôi gọi thì nàng nói: ‘Không sống nổi nữa!’” (Tuỳ Tưởng Lục).

Nói đùng một cái, là vì Ba Kim đang sống yên lành, hơn nữa, còn hữu hảo lắm lắm với chính quyền cộng sản, vào thời điểm ấy ông còn là cán bộ cấp cao về văn nghệ nữa kia; ấy thế mà một hôm vừa mới đi tiễn các nhà văn Á-Phi ở sân bay về đến nhà thì gặp người của cách mạng ập tới, túm lấy, trói tay giải đi. Úm ba la, Ba Kim – nhà văn cộng sản chính tông – trở thành “đối tượng của chuyên chính vô sản.” “Ðối tượng,” chữ ấy thoạt nghe có vẻ vô thưởng vô phạt, một khái niệm vô cảm, nhưng nghĩa của nó trong thực tiễn xã hội chủ nghĩa kinh khủng lắm, chỉ người trong cuộc mới hiểu. Nó có nghĩa nôm na là “kẻ thù.” Không phải chỉ đơn giản là kẻ thù giai cấp được định nghĩa trong các tác phẩm kinh điển mác-xít, nhiều nhất là trong các trước tác của Stalin, Mao Trạch Ðông, không phải thế. Thứ kẻ thù này luôn được đặt trước câu hỏi thách thức “ai thắng ai?”, để mà tiêu diệt không thương sót. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa (viết hoa) ai cũng có thể trở thành “kẻ thù” hết. Mà đã là kẻ thù thì còn cái gì tốt đẹp, vui vẻ, chờ đợi họ trên con đường khổ ải đã trở thành quen thuộc đối với dân đen. Nhất là dân đen ở nước Trung Hoa đỏ. Ở nước này cũng biết mỗi khi có một cuộc “vận động cách mạng” (lần thứ n trong lịch sử) là y như rằng các “đối tượng” của cách mạng (hay của chuyên chính vô sản thì cũng rứa) sẽ được “xử lý” như thế nào.

Nhà văn Ba Kim hiền lành không dám chống lại đảng cộng sản thậm chí cả trong ý nghĩ, bất thình lình bị đảng ném vào cái đống lúc nhúc đủ mọi thứ “kẻ thù của cách mạng.” Ông bị mang đi đấu khắp nơi, từ thấp đến cao, lúc “bồi đấu”, lúc “dạo đấu,” (4) lúc “chính đấu”, đủ kiểu. Nhà ở của ông bị lục lọi khám xét lanh tanh bành, đồ đạc bị cướp thả cửa…, bản thân bị đưa đi học tập (Ba Kim gọi là làm “bò”, lao động cải tạo ở “trường 7.5” (5) ). Bởi vì Ba Kim có tội, theo quan niệm của cách mạng, của đảng cộng sản, hay nói cho đúng hơn, của một số “ông bà” cách mạng (than ôi, chẳng bao lâu sau những ông bà cách mạng này lại bị các ông bà cách mạng khác vạch mặt chỉ tên rằng đó là một “bè lũ” những kẻ xấu). Tội của Ba Kim không hề được tòa án nào tuyên. Mấy ông bà cách mạng nắm Ðảng cộng sản lúc ấy bảo: Ba Kim là “tên đại phản cách mạng.” Thế là đủ. Bói ra ma, quét nhà ra rác, trường hợp của ông cũng không khác gì của các nhà văn khác, những gì Ba Kim viết hôm trước được khen, hôm sau bị chửi, bị lên án “tiếp tay cho kẻ thù của cách mạng.”

Trong các văn kiện nói về cuộc trấn áp rùng rợn này, đảng cộng sản Trung Quốc ra một khẩu hiệu sắt máu: “Ðánh gục tại chỗ, lấy chân đạp xuống, suốt đời không cho ngóc đầu dậy!”

Ở miền Bắc Việt Nam hồi ấy chẳng ai biết “Ðại cách mạng văn hoá vô sản” là cái chi chi hết, trừ những bài ca ngợi nó, tít chữ to, in màu đỏ đậm, trên trang nhất tờ Nhân Dân. Trong những cuộc nói chuyện “nội bộ,” các lãnh tụ lớn lãnh tụ bé ra sức ca ngợi cuộc “Ðại cách mạng văn hoá vô sản” do chính Mao chủ tịch vĩ đại đích thân chỉ đạo. Trong thời gian bắt đầu cuộc “Ðại cách mạng văn hoá vô sản,” Mao chủ tịch phu nhân là Giang Thanh có lần bay sang Hà Nội với tư cách khách riêng của chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà khách hách dịch này nằng nặc đòi xem trước những bài xã luận báo Nhân Dân, tự mình sửa từng chữ từng câu, rồi mới gửi trả lại cho toà soạn đưa đi in. Cầm trong tay những số báo ca tụng “Ðại cách mạng văn hoá vô sản,” người đọc giật mình thon thót, toát mồ hôi hột: liệu ở bên ta rồi có sẽ có cái “cách mạng” kiểu đó không? Mấy ông kễnh bên ta dám động cỡn lên làm một cái gì đó theo chân các Con Trời lắm. Nước Tàu ở gần ta quá, mà các ông kễnh của ta lại xính bắt chước. Cứ nghe các ông ấy nói thì cuộc “Ðại cách mạng văn hoá vô sản” ở bên Tàu hay lắm, rằng cuộc sống sẽ ngày một tốt đẹp hơn là nhờ vào nó đấy. Cứ như thể không có cách mạng thì người ta ăn cám cả.

Ờ, người ta nói, tốt hơn thì… tốt thôi. Miễn đừng có khởi lên một cuộc “đấu tranh” long trời lở đất như cải cách ruộng đất. Kinh nghiệm sống trong quốc gia xã hội chủ nghĩa cho người ta biết phàm đã “đấu tranh” là y như rằng xã hội lộn tùng phèo, đầu chẳng phải phải tai, lành ít dữ nhiều, loạn xị bát nháo, kinh lắm. Các lãnh tụ quyền sinh quyền sát mà khởi lên cái sự “đấu tranh” thì họ có lợi, chứ dân đen chỉ có nước chết, biết “tránh đâu”?

Nhưng những tin vỉa hè, bây giờ được dân gian gọi bằng một cái tên hiện đại, mà rất trúng, là Thông tấn xã nhân dân, cho biết ở bên Tàu chẳng có cách mạng cách miếc gì hết, mà đang có một cuộc “thiên hạ đại loạn” với những tiểu tướng Hồng vệ binh hung hăng đập phá, bắt bớ, và cả giết chóc nữa.

Bắc Kinh mà đã báo mưa thì vua quan ở Hà Nội đi ô, bà con hãy cẩn thận!

Nhưng than ôi, đã ở trong vòng kiềm toả của đảng cộng sản rồi thì có cẩn thận cũng bằng thừa.

Thật vậy, chẳng bao lâu sau sự khởi đầu “Ðại cách mạng văn hoá vô sản,” Lê Duẩn – hoàng đế tân triều ở nước ta, ngồi trên ngai vàng vẫn chưa quên việc bẻ ghi đường sắt, ra lệnh phát động ngay tắp lự một cuộc trấn áp bọn phản cách mạng, theo hình mẫu Trung Quốc, gọi là “bọn xét lại chống Ðảng.”

Thế là tôi vào tù. Cùng với vô số người khác.

Trong cuộc sống trong xà lim kín như bưng kéo dài hơn bốn năm, tôi không biết việc gì đang xảy ra bên ngoài bốn bức tường, nói gì đến những việc xảy ra ở tận bên Tàu. Ðến lúc được đưa ra trại chung mới được nghe sơ sơ về cái cuộc cách mạng long trời lở đất ấy. Những người Trung Hoa từ đại lục chạy qua, bị bỏ tù bởi nước chư hầu của Thiên triều, tránh không kể kỹ. Không phải vì họ sợ, đã ở trong nhà tù Việt Nam rồi còn quái gì mà sợ, nhưng họ ngán nhắc tới những kỷ niệm hãi hùng. Còn tôi thì nghe cái sự kể sơ sơ ấy đã dựng tóc gáy. Còn khiếp hơn những chuyện kinh dị đọc trong sách nhiều. Mạng người như mạng ngoé, có khi còn rẻ hơn. Dân thường còn thế, chắc trí thức Trung Quốc khốn khổ lắm.

Ðến những năm 1979-1980 khi cái răng Trung Quốc đùng đùng cắn môi Việt Nam một cái rõ đau, các nhà lãnh đạo Việt Nam coi Trung Quốc là kẻ thù số một số hai rồi, tôi mới được đọc lác đác vài cuốn sách bôi xấu những nhà lãnh đạo một thời của Thiên triều, đại loại như Hồng Ðô Nữ Hoàng (Giang Thanh), những chuyện thâm cung bí sử có liên quan tới Mao Trạch Ðông, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Chân, Diệp Kiếm Anh, Hạ Long, Bành Ðức Hoài, Chu Ân Lai…

Nhưng mãi đến bây giờ, ba chục năm sau đó, qua Tuỳ Tưởng Lục tôi mới được biết cái ngày “hội cách mạng” ở Trung Quốc đã diễn ra với giới trí thức như thế nào?

Tôi tin Ba Kim nói thật trong những gì ông viết về “Ðại cách mạng văn hoá vô sản.” Tôi tin rằng ông không bịa thêm, như thường thấy trong những hồi ký tố khổ. Nhưng tôi cũng tin rằng ông đã nói ít hơn những điều ông biết và có thể kể lại. Có thể cảm thông với ông, ông không thể nói đủ, nói hết. Một phần là do sợ hãi (sợ hãi là một thành tố của tính người xã hội chủ nghĩa, không có nó không có con người xã hội chủ nghĩa). Phần khác do mặc cảm tội lỗi: xét cho cùng, Ba Kim đâu có hoàn toàn vô can trong những điều tồi tệ đã diễn ra?

“Ðại cách mạng văn hoá vô sản,” theo lời tả của Ba Kim, bắt đầu một cách ào ạt, rầm rộ, với trống rong cờ mở, thanh la não bạt; hào hùng lắm, khí thế lắm. Trong không khí sôi động ấy, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, hoạ sĩ… , nói tóm lại, tất tần tật các văn nghệ sĩ, các nhà trí thức, lần lượt bị phái “tạo phản” (một tên gọi phái cực tả hồi ấy) điểm mặt, lôi ra. Họ bị buộc đủ các thứ tội đối với cách mạng, từ khinh thị công nông, nói xấu Ðảng, nói xấu lãnh tụ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác, bôi nhọ chế độ, đến phản cách mạng, bán nước… Họ là đều là “hoa dại,” là “cỏ độc” hết, tuốt tuột. Phái “tạo phản” la hét đầu đường cuối phố: “Phải quét sạch, phải nhổ tận rễ mọi thứ hoa dại cỏ độc.” Quần chúng, như đàn cừu Panurge, ào ào theo sau, xông vào nhà những người bị đấu, lôi họ ra đường, bắt họ đội “mũ cao” (một hình thức nhục mạ), nhổ bọt vào mặt họ, ném đá vào người họ, hô to những khẩu hiệu đòi tiêu diệt họ. Và xông vào nhà bọn hoa dại cỏ độc mà ăn cướp, ăn cướp thực sự, theo nghĩa đen.

Ba Kim tả: “Tôi bỗng trở thành ‘ác bá văn chương,’ (6) thành ‘yêu ma quỷ quái,’ thường xuyên bị lôi ra phê đấu. Về sau do ‘lũ bốn tên,’ qua quyết định của sáu người có trách nhiệm ở Thượng Hải là Vương Hồng Văn, Mã Thiên Thuỷ, Từ Cảnh Hiền… đánh tôi thành ‘tên phản cách mạng không đội mũ cao’ đuổi tôi ra khỏi giới văn nghệ. Phái ‘tạo phản’ và tay chân của ‘lũ bốn tên’ dán lên mấy nghìn tờ báo chữ to (đại tự báo) về tôi, thậm chí còn dán biểu ngữ ngay trên đường cái nói tôi là ‘quân bán nước,’ ‘phản cách mạng,’ cho tôi là thối tha. Trương Xuân Kiều tuyên bố công khai không cho tôi sáng tác nữa.” (Tôi Và Văn Học). “Nghĩ lại những ngày ấy… tôi vẫn rùng mình rởn gáy. Tôi cảm thấy rành rành rằng tấm lưới xung quanh tôi ngày càng thít lại, mỗi tuần lễ một ghê gớm hơn”…”Nực cười là tôi cũng cho nhân quyền là thứ của giai cấp tư sản, còn hạng ‘yêu ma quỷ quái’ như chúng tôi không có tư cách hưởng những thứ ấy. Lúc đó sống một ngày dài bằng cả năm, còn bụng dạ nào mà cười? (Về Nói Thật. Bài Thứ Ba). “Tôi không giấu là nhiều lần tôi bị phái ‘tạo phản’ lôi lên bục bắt ‘ngồi máy bay phản lực’; tôi cúi đầu nhận tội, diễn đủ các trò hề! Có lần, tôi và một ông bạn nhà văn già phải quỳ trên sàn hội trường phân hội Liên hiệp các nhà văn để tiếp thu những lời phê phán ‘phần tử cuồng loạn’ của bọn học sinh “cách mạng.” (Vô Ðề)

Không phải chỉ có Ba Kim bị hạ nhục. Vào thời kỳ đen tối ấy những công thần của cách mạng như Lưu Thiếu Kỳ, Trần Nghị, Ðặng Tiểu Bình, Chu Ðức, Bành Ðức Hoài, Trần Vân… cũng phải gục đầu quỳ gối trước các tiểu tướng Hồng vệ binh.

Nhưng đó là những nhà chính trị. Họ có thể chịu nhục nhiều, và nhiều lần, hết ra lại vào Trung Nam Hải, miễn thực hiện được mục đích. Trí thức không giống họ. Trí thức là những người không có da dầy, rất mẫn cảm với mọi tác động từ bên ngoài. Cách mạng vô sản chưa kịp tiêu diệt họ thì nhiều người trong bọn họ đã tự diệt mình rồi. Ba Kim kể: “Dĩ Quần (7) là người thứ nhất. Nghe nói, anh nhảy lầu ngày mồng hai tháng tám, nhưng cho đến hôm nay (8) tôi vẫn chưa biết rõ anh bị bức phải nhảy lầu như thế nào. Tôi chỉ biết anh bị người ta bức tử với tội ‘không cần có chứng cứ’… “Dĩ Quần chết một tuần rồi tôi mới hay tin, còn như Lão Xá ‘vỡ ngọc’ (9) thì một thời gian lâu sau khi ông tự sát.” Những người tự sát chưa chắc đã là những người hèn nhát. Phó Lôi, một người bạn mà Ba Kim mến phục, giải thích cái chết của bạn bè, và của chính mình, bằng câu: “Kẻ sĩ, có thể giết, không thể làm nhục.” Sau Dĩ Quần, Lão Xá, Ba Kim được tin Trần Ðồng Sinh, Kim Trọng Hoa… “họ ở rất gần nhà tôi, thế mà tôi không biết họ chết vào lúc nào. Kim Trọng Hoa lặng lẽ treo cổ trong phòng, bà mẹ tám mươi chỉ nghe tiếng ghế đổ… Trần Ðồng Sinh, thì nghe nói chết nằm vắt trên bếp ga, do đó người ta đoán anh tự tử. Nhưng anh đang ở trong thời kỳ ‘cách ly kiểm tra’ mà, làm sao có thể mở bếp ga được?” (10) (Hai Mươi Năm Trước). Cù Bạch Âm chỉ vì một bài “Tự bạch về đi tìm cái mới” mà “chịu đủ mọi nỗi giày vò như ở địa ngục,” kết thúc bằng cái chết bi thảm (Tìm Tòi).

Ba Kim viết: “Trong Văn Cách (11) , những trí thức bị chết oan đâu chỉ có hàng ngàn, hàng vạn. Họ nêu cao tấm gương phê phán cái triết lý ‘hãy cứu lấy mạng sống.’ Tôi nhớ thời chống phái hữu (12) , tôi có viết một bài báo bác lại luận điệu ‘không thể làm nhục’ để đập tan bộ mặt kiểu cách của các nhà trí thức. Viết bài đó kỳ thực là tôi ‘cứu lấy mạng sống của tôi’ ” (13) (Hai Mươi Năm Trước).

Những trí thức tìm đến cái chết nhiều phần vì không chịu bị làm nhục, bị dày vò quá sức chịu đựng về thể xác. Trong gia đình Ba Kim, chính ông bị bắt bắt quỳ hằng giờ trên sàn đấu, bắt “đi máy bay phản lực,” (14) Tiêu San, vợ ông, bị bọn “tạo phản” quất dây da bịt đồng vào mặt, hành hạ bà đủ trò trước khi bà nhắm mắt vì bệnh ung thư (tháng 7.1972). Con cái Ba Kim bị đẩy đi công tác nông thôn, ở tít tắp những nơi gọi là vùng sâu vùng xa. Gia đình nào vướng vào vòng Ðại cách mạng văn hoá vô sản thì số phận cũng tương tự như vậy. “Tôi nghe người con dâu đồng chí Chu Tín Phương kể lại: bà Chu trước khi mất thường bị bọn đầu gấu lôi ra làm quả bóng xô đi đẩy lại, đến nỗi mình mẩy mềm nhũn. Có người khuyên bà trốn đi, bà nói: “Tôi mà trốn đi thì chúng nó lại hành hạ ông nhà tôi như thế thôi mà” (Thương Nhớ Tiêu San). Nhà văn nổi tiếng Lão Xá cũng bị đánh cho tơi tả, thượng cẳng chân hạ cẳng tay, không hề nương nhẹ với kẻ chân yếu tay mềm. Vợ Lão Xá kể: “Tôi không thể nào quên được trong đêm khuya đã tự mình lấy bông thấm nước, lau từng chút một những vết máu trên đầu, trên mình người thân của tôi như thế nào, mà không rõ chuyện này ở đâu, tại sao lại ra nông nỗi ấy… ” (Lão Xá).

Ðến như thân sinh nhà văn Giả Bình Ao (mới nổi tiếng sau này), chỉ là một thầy giáo làng (một trí thức cấp thôn xã) thôi, không biết cứng đầu thế nào mà cũng bị trấn áp, gia đình tan nát. Giả Bình Ao cho một nhân vật của ông kể về những ngày ấy: “Ba năm trước, nổi lên một cơn gió, phải học tập Tiểu Cận Trang, kéo hết người ở ngoài đồng về, suốt ngày môi đỏ răng trắng nói a, hát a. Anh nhà tôi cáu kỉnh nói trước hội nghị xã viên: ‘Nông dân mình bới đất kiếm cơm, khua môi múa mép làm gì? Ăn ngũ cốc không tiêu được hay sao mà bày ra cái trò vớ vẩn ấy,’ hôm sau liền bị bắt. Trong trại giam họ đánh đập anh ấy, đánh gãy cả chân, vết thương bị nhiễm trùng, rồi anh ấy chết.” Trong chuyện, người vợ kiên trì minh oan cho chồng, rốt cuộc bị các quan cấp xã cấp huyện trù dập, bị xã trưởng hiếp, tự tử mà chết.

Ðấy là cái mà cách mạng vô sản mang đến cho trí thức, lớn cũng như bé. Sau này, mọi tội do Ðảng cộng sản gây ra trong Ðại cách mạng văn hoá vô sản đều được vẫn cái đảng cộng sản ấy đổ tuốt tuột vào cái thùng rác tiện lợi là phái “tạo phản.”

Nhưng không phải mọi trí thức đều tuẫn tiết. Phần lớn trí thức không làm thế. Không phải họ không có dũng khí. Cũng không phải họ không biết chán chường. Một trong những lý do khiến họ phải cố gắng sống sót là họ đã ăn phải “cháo lú” (từ của Ba Kim).
Ba Kim tâm sự: “Những ngày ấy, cuộc sống ấy, quan hệ ấy giữa con người và con người, thật là đen tối quá chừng, giống như đang chịu tội giữa địa ngục vậy. Tôi lấy làm lạ, bấy giờ tôi đã ăn cháo lú gì mà có thể giơ hai tay lên, hô to đả đảo mình, cam lòng nhận tội, để cho kẻ khác tước đoạt quyền làm người của mình”. “Không phải là tôi đang nói mê. Năm 1966 quả thực tôi đã làm thế. Cháo lú đã làm tôi mê suốt mười năm. Năm 1983, nó lại định đưa tôi vào cảnh mộng một lần nữa, nhưng cái phép quỷ quái quen thuộc đã mất tác dụng làm cho tôi lú lẫn lần nữa” (Hai Mươi Năm Trước).

Sao mà giống những gì xảy ra ở Bắc Việt Nam đến thế! Hãy nhớ lại thời kỳ cải cách ruộng đất mà xem. Có phải là như thế không?

Nói cho đúng, sao mà Bắc Việt Nam giống Trung Quốc đến thế!

Ở Việt Nam, trong những cuộc chỉnh huấn bắt đầu từ năm 1950 (sau khi biên giới Việt Trung được khai thông) và kéo dài nhiều thập niên sau, cứ thỉnh thoảng lại nổi lên một đợt, hiện tượng ăn phải “cháo lú” cũng y hệt ở Trung Quốc. Người ta tự hành hạ mình bằng cách tự kiểm thảo, không phải là nhìn lại quá khứ để rút kinh nghiệm, mà là tự nói ra những khuyết điểm trước Ðảng, có nghĩa là trước cấp trên, theo cách biểu diễn, bằng một sự thành khẩn không thể tin được, tức là thổi phồng những khuyết điểm ấy càng lớn càng tốt, rồi tự xỉ vả bằng những lời lẽ xúc phạm nặng nề nhất, thậm chí bịa đặt ra những tội lỗi mình không hề có, tự mình đả đảo mình (cũng giống như Ba Kim ở Trung Quốc). Ði xem phim Bạch Mao Nữ (Cô Gái Tóc Trắng), người ta bắn lên màn ảnh khi thấy hình tên địa chủ xuất hiện. Ði xem kịch người ta ném đá vào diễn viên đóng vai cường hào. Tất cả những cái đó được nhập cảng ồ ạt từ Trung Quốc đỏ. Thứ “cháo lú” này tôi đã được thấy tác dụng của nó như thế nào. Khi một đám đông đã ăn phải “cháo lú” tức thì xuất hiện sự “lên đồng tập thể.” Con người bỗng chốc mất hết tính người, tính thú nổi lên. Cuộc tổng đàn áp, tổng giết chóc, không cần tới tay những người cộng sản nữa, dân chúng tự giết lẫn nhau là đủ.

Nhưng cũng lại phải nói cho công bằng, về đại thể, mức độ tàn bạo của những cuộc “vận động” cách mạng do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo quả có thấp hơn ở Trung Quốc nhiều, quy mô quả có hẹp hơn nhiều. Ðơn giản vì Bắc Việt Nam là nước nhỏ, cái gì ở đó cũng chỉ “tiểu” thôi, chứ không thể “đại” (ở Trung Quốc đã Nhảy Vọt rồi người ta cũng phải thêm Ðại vào cơ, cho nó oách).

Khốn thay, số phận con người thì ai cũng như ai, cách mạng đại hay cách mạng tiểu thì cũng thế, mỗi con người chỉ có vỏn vẹn một cuộc đời để mà sống, người Trung Quốc cũng y như người Việt Nam, chẳng có gì khác nhau. Bi kịch cho một con người lớn chẳng kém bi kịch của số đông chút nào, có khi còn lớn hơn. Bởi một con người là cái cụ thể, cái thấy được, cái biết được, rõ ràng hơn bất kỳ con số thống kê nào. Có người sẽ bảo: dân Trung Quốc hơn một tỉ, Ðại cách mạng văn hoá vô sản có làm chết đến mươi triệu không mà rộn? Mà có chết mươi triệu hay hơn nữa thì cũng chưa tới một phần trăm cơ mà. Xin thưa: một con người ở trong con số một triệu, hay mười triệu, vẫn là một người như tôi với ông đây này, có vợ có con, có mẹ có cha, có bằng hữu, có thân thuộc, có niềm vui nỗi buồn, có đau thương, có hạnh phúc…, có tất cả những gì thuộc về con người “không xa lạ với tôi,” nói theo cách của Mác.

(Còn tiếp)

Vũ Thư Hiên

(Văn Việt)



Chú thích

(1) Hình như sau năm 1975 hậu quả của Ðại cách mạng văn hóa vô sản cũng còn kéo dài đối với những trí thức bị trấn áp.
(2) Trích Mao tuyển
(3) Ba Kim phu nhân
(4) Hai thứ đấu này chưa được nhập khẩu vào Việt Nam, “bồi đấu” là bị đấu nhưng là đấu phụ, không phải là nhân vật chính của cuộc đấu; “dạo đấu” là không phải bị đấu ở đơn vị sở tại, địa phương sở tại, mà đơn vị khác, hoặc địa phương khác mượn về đấu để “nâng cao lập trường”.
(5) Trường 7.5 là một thứ trại tập trung.
(6) Cụm từ này chắc chắn không có trong từ vựng của bất cứ ngôn ngữ nào.
(7) Có quá nhiều tên văn nghệ sĩ được Ba Kim nhắc tới. Họ đều là những người có tên tuổi trong nền văn nghệ Trung Quốc, nhưng ít được người đọc Việt Nam biết đến. Xin miễn chú thích.
(8) Từ 20 năm sau.
(9) Ý nói chết.
(10) Ba Kim ngờ có cả nhiều trường hợp bị giết chết rồi đổ cho là tự sát.
(11) Ðại cách mạng văn hóa vô sản.
(12) Một cuộc “đấu tranh” trước Ðại cách mạng văn hóa vô sản.
(13) Ba Kim viết rất thực tâm trạng của ông, cũng là tâm trạng nhiều trí thức xã hội chủ nghĩa khác.
(14) Ba Kim không miêu tả kiểu nhục hình này. Có thể đoán là bị treo lơ lửng.

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Bùi Tín - Quân đội nhân dân và Công an nhân dân lại lên tiếng: "Không được dùng chúng tôi sai chức năng !"


Trên mạng thông tin Dân Làm Báo đúng ngày 2/9/2015 đã đăng lại Kiến Nghị của 20 sỹ quan cấp cao trong Quân đội nhân dân (QĐND) và Công an nhân dân (CAND), yêu cầu lãnh đạo đảng và chính phủ không được dùng QĐND và CAND vào những vụ việc sai trái với chức năng quy định trong Hiến pháp và Pháp luật là: Bảo vệ Tổ quốc, chống ngoại xâm và bảo vệ cuộc sống an bình của toàn dân.

Kiến Nghị này được công bố đúng một năm trước, vào ngày Quốc khánh 2/9/2014, gửi Chủ tịch Nước có chức trách thống lĩnh các lực lượng võ trang nhân dân (LLVTND), và Thủ tướng có trọng trách nắm hai bộ Quốc Phòng và Công An. Vì chưa được hồi âm nên bản Kiến Nghị được gửi tiếp nhân ngày Quốc Khánh năm nay, nhằm nhấn mạnh yêu cầu khẩn thiết đó nhân Đại Hội các cấp đi đến Đại Hội toàn quốc XII.

20 sỹ quan cao cấp tiêu biểu này gồm có: Trung Tướng Lê Hữu Đức từng là Cục trưởng Cục tác chiến QĐND, các Thiếu tướng Trần Minh Đức, Huỳnh Đắc Hương, Lê Duy Mật, Bùi Văn Quý, Nguyễn Trọng Vĩnh và hơn 10 Đại Tá QĐND và CAND - do tôi từng quen biết - đều là các sỹ quan có nhiều cống hiến trong chiến đấu và uy tín ngoài xã hội. Đó là bộ phận tinh anh, dũng cảm, sáng suốt nhất, xứng đáng là đại diện cho đại đa số sỹ quan các cấp ở mọi đơn vị, xứng đáng là tiếng nói trung thực của toàn quân.

Nội dung Kiến Nghị rất cần được phổ biến rộng rãi, tóm tắt là:

1/ LLVTND luôn vì dân, không được huy động vào việc gì có hại, phải dựa vào dân, không được đánh mất tín nhiệm với nhân dân. Chấm dứt ngay việc dùng QĐND vào những sự vụ mang tính đối kháng, như giải tỏa đất đai, ngăn chặn các cuộc biểu tình yêu nước ôn hoà; tuyệt đối không lạm dụng lực lượng Công An vào việc đàn áp những người dân vô tội chỉ yêu cầu giải quyết các quyền lợi hợp pháp của mình.

2/ Đảng và Nhà nước phải quan tâm thỏa đáng những hy sinh cống hiến của mọi chiến sỹ, gia đình được chăm sóc chu đáo. Cố tình phớt lờ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 và các trận bảo vệ biển đảo không chỉ phủ nhận lịch sử, xúc phạm đồng bào và chiến sỹ đã hy sinh, còn ảnh hưởng đến quyết tâm chiến đấu của LLVTND. Đó là sai lầm không được phép tái phạm. Phải khôi phục danh dự và quyền lợi của các liệt sỹ, thương binh, gấp rút tu bổ các nghĩa trang liệt sỹ dọc biên giới đã bị bỏ bê hơn 20 năm.

3/ LLVTND cần được xác định rõ ràng chính xác đối thủ, không thể mơ hồ biến thù thành bạn, coi bạn là thù. Đối thủ tác chiến là những thế lực có thể đe dọa chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong hiện tại và tương lai, không thể là những đối thủ đã thuộc về quá khứ.

- Đối tượng khống chế của Công An phải là những kẻ tội phạm, các hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật, dù ở trong hay ngoài bộ máy cầm quyền, không thể là những người dân vô tội.

- Không được vì quan điểm bảo thủ giáo điều mà đánh mất các cơ hội hợp tác với các cường quốc văn minh.

4/ Là người chủ và bảo vệ đất nước, nhân dân và LLVTND phải được biết chính xác hoàn cảnh thực tế của chúng ta.

Nhà Nước phải báo cáo rõ ràng về thực trạng quan hệ Việt - Trung và những ký kết bí mật liên quan đến lãnh thổ trên biên giới, biển đảo. Có tin của Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời báo ( Trung Quốc) công bố nội dung mật thỏa thuận 2 bên: "Việt Nam mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương ở Bắc Kinh, như Trung Quốc dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây... Trung Quốc chấp nhận cho 30 năm ( đến năm 2020 ) để Đảng CS VN giải quyết các bước cần thiết cho việc gia nhập gia đình các dân tộc Trung Quốc". Tuy chúng tôi không tin chuyện này nhưng lãnh đạo cần công khai lên tiếng cho toàn quân, toàn dân và thế giới rõ.

Yêu cầu Chủ tịch Nước, Thủ tướng và lãnh đạo của đảng Cộng Sản trả lời rõ ràng minh bạch các vấn đề trên cho toàn thể nhân dân và các Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Không thể giữ im lặng mãi, khi lãnh đạo hứa mọi việc của Nhà Nước đều công khai minh bạch, mọi việc dân biết, dân làm, dân kiểm tra.

Phía dưới là chữ ký của 20 sỹ quan cao cấp trong QĐND và CAND, với yêu cầu mọi phương tiện truyền thông báo chí phổ biến rộng rãi trong xã hội, một yêu cầu cấp bách khi Bộ Chính Trị không trả lời, coi thường ý nguyện của toan quân và toàn thể xã hội.

Xin nói thêm rằng một số sỹ quan cao cấp trên đây mong các mạng và các bạn trong QĐND và CAND phổ biến rộng rãi Kiến Nghị này nhân dịp Đại Hội Đảng XII sắp đến, cho đến khi có trả lời từ những người có trách nhiệm.

Toàn văn bản Kiến Nghị còn lưu trên mạng Google theo đường dẫn:

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20140906-viet-nam-cuu-si-quan-kien-nghi-chinh-quyen-minh-bach-quan-he-voi-trung-quoc

Và trên một số mạng như Dân Luận, Dân Làm Báo...

Bùi Tín

(Dân Luận)

Bùi Tín - Nhận diện thật rõ chế độ chính trị toàn trị

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
                                              Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

 Nhà báo, cũng là nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ Bùi Mẫn Hân (Min Xin Pei), gốc Trung Quốc, một học giả có uy tín, vừa cho đăng một bài báo lý thú trên tạp chí Carnegie / Hoa Kỳ (số tháng 7/2015) chuyên nghiên cứu về các quan hệ quốc tế, có nhan đề "Gốc rễ những rối loạn về kinh tế của Trung Quốc là gì?

- Là chính trị, ngốc ạ!".

Ngày 16/9 các mạng Dân Luận và Đối Thoại đã đăng bản dịch của bài báo này.

Bài báo đi từ lịch sử các chế độ độc đoán xưa và nay trên thế giới để đi đến kết luận về bản chất chế độ chính trị ở Trung Quốc hiện nay.

Có thể tóm tắt những ý kiến chính của bài báo này như sau:

 - Từ thời phong kiến đến chủ nghĩa tư bản và chế độ "cộng sản" mang tên xã hội chủ nghĩa, các chế độ độc đoán đều mang tính chất bóc lột nhân dân, mang lại bất công xã hội. Các nhà nước ấy có thể mang tên là "nhà nước thú dữ" - predatory states" - có nghĩa là ăn thịt đồng loại, tất cả đều là chế độ tham ô, chuyên ăn cắp, ăn cướp của dân, phản dân chủ, phản dân tộc.

 - Có những chế độ nhà nước thú dữ cá nhân, như các vương triều phong kiến hay dưới chủ nghĩa tư bản, như Ferdinand Marcos ở Philippines, Suharto ở Indonesia hay Mobotu Sese Seko ở Zaire.

 - Có những nhà nước thú dữ mang hình thức tập thể của một nhóm người hay mang tên một chính đảng, như ở Liên Xô trước đây, ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên hiện nay, đều là chế độ thú dữ chuyên "ăn thịt " đồng bào và xã hội không bao giờ ngừng nghỉ.

 - Có hai kiểu ăn cắp của các con thú dữ này rất đáng phân tích: "ăn cắp từ từ" và "cướp bóc nhanh" (slow thief và fast plunder). Những tên độc tài cá nhân trên đây thuộc loại cướp bóc nhanh, thu vén cho chúng và gia đình, bộ hạ tin cẩn thật gọn, thật nhiều rồi hạ cánh an toàn để hưởng thụ riêng; giới nghiên cứu gọi chúng là tầng lớp “quan tặc” – kleptocraty - cùng loại với hải tặc, dâm tặc, lâm tặc, tin tặc...

Các chế độ nhà nước thú dữ loại tập thể thì khôn ngoan, ranh ma hơn, ăn cắp từ từ, không vội vã, để kéo thật dài cuộc ăn cắp, còn sẻ cho nhân dân hưởng thụ tý chút thành quả do chính họ làm ra, nhằm ru ngủ dân chúng, che lấp tội ác ăn cắp và ăn cướp kéo dài để chia nhau phần lớn tài sản chung, dân chỉ hưởng phần bèo bọt, nhưng chúng vẫn tuyên truyền là "đời sống người dân được cải thiện rõ rệt ".

Bài báo kết luận: đó chính là gốc rễ chính trị của những rối loạn về kinh tế hiện nay ở Trung Quốc, do tham nhũng tràn lan, lòng dân phẫn nộ hết chịu nổi, kẻ cắp kẻ cướp nắm luôn toà án, luật lệ, không có ai thanh tra, kiểm soát. Bọn cướp tập thể chuyên tranh dành quyền lợi và quyền hành với nhau; sự phát triển không hài hoà, đồng bộ, do đó khủng hoảng kinh tế - tài chính - xã hội - văn hoá xen cài vào nhau, thúc đẩy cường độ khủng hoảng lên độ tột cùng, và chế độ sụp đổ là tất yếu.

Trong khi đó, thế giới lại có những gương sáng hấp dẫn để so sánh là nhà nước dân chủ - pháp quyền, coi trọng pháp luật nghiêm minh, công dân có tiếng nói, có nhân quyền, nhà nước có thanh tra, giám sát công minh, mọi việc công khai, minh bạch, hầu như không có kẽ hở cho ăn cắp, ăn cướp, nếu có cũng sẽ bị phát hiện, truy tố theo luật pháp.

Nhân đọc bài báo trên của nhà báo Bùi Mẫn Hân, tôi thử đối chiếu với Việt Nam; Nhà nước XHCN VN độc đảng, độc đoán này có thể được xếp vào loại "nhà nước thú dữ - ăn cắp từ từ " suốt 70 năm tròn, ngày càng thiện nghệ, ma quái hơn thời chiến.

Tôi muốn góp ý thêm với nhà báo Bùi Mẫn Hân rằng theo tôi, có một điểm cơ bản chưa được ông nói đến khi nhận diện nhà nước Trung Quốc, cùng một loại với VN.

Ở VN, bộ mặt rõ ràng, thâm độc nhất của chế độ là sự đồng nhất giữa đảng CS và Nhà nước, theo kiểu độc quyền nhà nước trùm lên mọi mặt, lên tất cả.

Xin kể: Đảng CS tự coi mình là nhà nước, không chia sẻ cho ai khác, đảng CS là nhà nước, là chính phủ, là quốc hội (90 phần trăm là đảng viên CS), là toà án, là bộ máy thanh tra, giám sát; kinh tế quốc doanh thực chất là kinh tế của đảng CS, lũng đoạn, khống chế, tuy được đầu tư cực lớn, lại lỗ to, nợ lớn. Đảng CS nắm trọn ngân sách nhà nước, không để lộ một xu nào cho ai biết, kiểm tra. Đảng cũng là quân đội, Đảng cũng là công an, hung bạo, giết dân, tra tấn dân, kết hợp với côn đồ, lưu manh, lại phong hàng 300 tướng, tệ hại, là đại nạn cho toàn xã hội.

Đây là một kiểu vương triều, vua tập thể quyết định mọi chuyện. Cũng là một kiểu nhà nước thượng đế - Deo State - tự coi minh là thiêng liêng với quyền lực vô hạn, có mặt khắp mọi nơi, thường xuyên, liên tục. Sự bao biện là tuyệt đối. Dân chủ là số không.

Đúng, nhà nứơc /Đảng CS VN là loài thú dữ - Predatory State - ăn thịt đồng loại, với nghĩa là bóc lột sức lao động, hành hạ, nhũng nhiễu đồng bào mình bao nhiêu cũng chưa đủ, theo kiểu từ từ và lâu dài. Dạ dày nó không có giới hạn.

Theo tôi đó là con khủng long to lớn, hung bạo, tham ăn, nhập vào nhà nước XHCN, đồng nhất với nhà nước, đội lốt nhà nước, lũng đoạn nhà nước, phải gọi là nhà nước khủng long - Dinosaur State - mới lột tả được bản chất của nhà nước CS VN. Khủng long là một loài thú khổng lồ cách đây hàng trăm triệu năm, đã tuyệt chủng, chỉ tồn tại qua các hình vết xương trong khảo cổ học, được biết là dạ dày cực lớn, phàm ăn, hung dữ, ăn thịt các loài thú khác, khi háu đói ăn cả đồng loài.

Con khủng long - nhà nước VN ấy đã "ăn thịt" hơn ba triệu nhân mạng đồng loại trong chiến tranh, mang bề ngoài là kháng chiến chống ngoại xâm để xây dựng cơ đồ riêng cho nó, để tha hồ ăn cắp, ăn cướp vô vàn sinh mạng, tài sản, đất đai, thời gian của xã hội suốt 70 năm, gây nên đau thương, tang tóc, đau khổ, bất công cho hàng triệu đồng bào, trong thời bình nó càng phàm ăn, càng hung dữ với đồng loại.

Vậy chúng ta phải làm gì và làm thế nào? Chẳng lẽ sống cứ để cho con khủng long này bòn rút đến tận cùng xương tuỷ của dân tộc, như nhà báo Nguyễn Thị Từ Huy đặt ra câu hỏi tha thiết ấy. Nhà văn Võ Thị Hảo kêu gọi hãy chôn vùi cái bẫy - chính là con khủng long hung bạo này - xuống chín tầng địa ngục. Nhà báo Bùi Minh Quốc dùng một bài hát để kêu gọi mọi người dân Việt vùng dậy "đập tan mọi xiềng xích", cũng chính là con khủng long khổng lồ nhưng đang bị nhiều bệnh tật và nay bị toàn dân nhận diện rõ ràng, không thể tồn tại lâu dài.

Con khủng long CS Liên Xô đã bị chôn vùi xuống chín tầng địa ngục. Con khủng long CS hung tợn láng giềng phía Bắc đang lâm trọng bệnh, đã bị nhân dân Trung Quốc, Hồng Kông và bà con luyện tập Pháp Luân Công khắp thế giới nhận diện.

Chẳng lẽ gần 100 triệu đồng bào ta vẫn còn nhẫn nhục ngậm miệng để con khủng long hung hãn, tham lam vô độ ấy hành hạ đầy ải mãi ư? Cho đến bao giờ...?

Đã có những đảng viên lão thành sớm nhận ra bản chất của đảng CS, có dũng khí trả thẻ đảng viên lại cho đảng, như ông Nguyễn Hộ, tướng Trần Độ, ông Lê Hồng Hà, Trung tá Trần Anh Kim, nhà báo Bùi Minh Quốc, người trẻ hơn như cô Tạ Phong Tần, nhà báo Phạm Chí Dũng và nhiều đảng viên trẻ. Đó là những người thật lòng yêu nước, thật lòng thương dân, quyền lực không ham, tiền bạc không màng, sống thanh thản trong tự do với lòng tự trọng trong sáng, do sớm nhận ra bộ mặt thật của Đảng CS. Đây là những gương sáng cho các đảng viên còn có lương tâm và tự trọng nhân dịp Đại hội đảng XII sắp đến. Chân lý, lẽ phải sớm muộn bao giờ cũng thắng.

Con khủng long thực dân Anh già nua đã bị nhân dân Ấn Độ do Mahatma Gandhi lãnh đạo chôn vùi trong những cuộc xuống đường bền bỉ không bạo lực. Chỉ 4 vạn dân Nam Phi nghe theo lời kêu gọi của tù nhân Nelson Mandela xuống đường trong khí thế ôn hòa bất khuất đã đủ để chôn vùi tức khắc con khủng ong phân biệt chủng tộc toàn trị liền mấy thế kỷ, đưa người tù gan góc thông tuệ lên làm tổng thống. Đó là những tấm gương sáng, kinh nghiệm hay cho toàn dân ta tham khảo và hành động.

Bùi Tín Blog

(VOA)

Có hội rất tốt, nhưng cũng có hội phản động, chống phá chế độ

 Chủ tịch Quốc hội cho rằng: “Người nước ngoài sống lâu đời tại Việt Nam mà luật này không nói gì cho họ lập hội thì họ buồn lắm”.

Sáng nay (24/9), Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Nội vụ - ông Nguyễn Thái Bình báo cáo về dự án Luật về Hội.

Quyền lập hội là một trong các quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận. Theo yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta đã kịp thời đề ra đường lối, chủ trương phù hợp và ban hành nhiều văn bản về hội quần chúng; bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với các hội.

Ngày 20/5/1957 Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 102/SL/L004 về “Luật quy định quyền lập hội”, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Nghị định, Quyết định quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Đến nay, các hội ở nước ta phát triển đa dạng với quy mô, phạm vi và tính chất hoạt động khác nhau.

Tính đến tháng 12 năm 2014 cả nước có 52.565 hội (483 hội hoạt động phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động phạm vi địa phương), trong đó có 8.792 hội có tính chất đặc thù (28 hội hoạt động phạm vi cả nước và 8.764 hội hoạt động phạm vi địa phương.

Cho ý kiến về dự thảo luật, Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ, tình hình hội tràn lan, hoạt động không cao, hành chính hóa lớn, dựa vào kinh phí nhà nước cũng lớn. Bên cạnh đó, có loại không mang tên hội nhưng hoạt động như hội, có tính chính trị trong đó.

“Nên tính  lại, loại ích nước lợi nhà thì nên khuyến khích, đó mới chính là quyền tự do lập hội của công dân, để xây dựng và phát triển đất nước. Tôi đọc lên thấy chưa thật rõ, ngay khái niệm và định nghĩa chưa bao quát. Có tôn chỉ mục đích được pháp luật thừa nhận thì luật này chứ còn luật nào", Chủ tịch Quốc hội nêu quan điểm.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “Người nước ngoài sống lâu đời tại Việt Nam mà luật này không nói gì cho họ lập hội thì họ buồn lắm”. ảnh: quochoi.vn

Tại Điều 8 của dự thảo luật nói về “các hành vi bị cấm” bao gồm:

Cản trở công dân, pháp nhân Việt Nam thực hiện quyền lập hội theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

Ép buộc, cưỡng ép công dân, pháp nhân Việt Nam thành lập, tổ chức, hoạt động hội trái quy định của pháp luật.

Xúi giục, lôi kéo, kích động, mua chuộc công dân, pháp nhân Việt Nam thành lập, tổ chức và các hoạt động của hội trái pháp luật.

Thành lập, tổ chức các hoạt động của hội trái pháp luật.

Lợi dụng việc thành lập, hoạt động của hội để:

Xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cộng đồng, tổ chức; gây phương hại đến lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia, an toàn xã hội, khối đại đoàn kết dân tộc, quyền con người, quyền công dân; trái thuần phong mỹ tục của dân tộc;

Tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước;

Xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản hợp pháp của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân;

Xúc phạm đến hình ảnh danh nhân, anh hùng dân tộc.

Đề cập tới nội dung này, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh: “Công dân bị hạn chế thì hạn chế cái gì phải nói vào luật để bảo đảm quyền công dân”.

Người nước ngoài có được lập hội?

Vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm chính là việc  người nước ngoài sinh sống và làm việc hợp pháp tại Việt Nam tham gia hội.

Theo Tờ trình của Chính phủ, vấn đề này có hai loại ý kiến: Loại ý kiến thứ nhất đề nghị, người nước ngoài sinh sống và làm việc hợp pháp tại Việt Nam được tham gia hội trong một số trường hợp theo quy định của Chính phủ.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị, không quy định trong Luật việc tham gia hội của người nước ngoài. Chính phủ tán thành loại ý kiến thứ nhất và đã thể hiện tại Điều 36 của dự thảo Luật.

Thường trực Ủy ban pháp luật bày tỏ quan điểm cho rằng, từ năm 1998 Chính phủ đã cho phép các doanh nghiệp nước ngoài đã được phép hoạt động thương mại, đầu tư và dịch vụ tại Việt Nam được thành lập hiệp hội doanh nghiệp hoặc Câu lạc bộ doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.

Mặt khác, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, các quỹ xã hội, quỹ tư nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài, có hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận cũng được phép hoạt động tại Việt Nam.

Như vậy, trên thực tế một số hiệp hội và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã được Nhà nước cho phép thành lập và hoạt động ở Việt Nam. Do đó, Thường trực Ủy ban pháp luật tán thành việc áp dụng quy định của Luật này đối với người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam tham gia.

Chủ tịch Quốc hội cho rằng: “Người nước ngoài sống lâu đời tại Việt Nam mà luật này không nói gì cho họ lập hội thì họ buồn lắm”.

Trong khi đó, Phó Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp – ông Nguyễn Đình Quyền cũng cho rằng, một nhà nước pháp quyền thì không thể cấm người nước ngoài tham gia hội. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là có cho phép họ thành lập tổ chức tại Việt Nam hay không?

"Nếu người nước ngoài tham gia vào hội văn học nghệ thuật của Việt Nam thì tốt quá, nhưng có cho họ thành lập hội nước ngoài ở Việt Nam hay không thì phải để tính", ông Quyền cho hay.

Cũng bày tỏ băn khoăn về nội dung này, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam – ông Nghiêm Vũ Khải bày tỏ quan điểm, không nên quy định tư cách pháp nhân vì nó là vấn đề dân sự, tuy nhiên cũng phải có quản lý để xử lý khi có tiêu cực.

Ông Khải dẫn chứng: "Ví dụ tôi sang Nhật Bản học thấy họ bắt cam kết, nếu sang học thì chỉ học chứ không được tham gia vào hoạt động chính trị ở nước đó ví dụ tham gia vào hoạt động biểu tình. Tôi phải ký vào giấy cam kết, nếu vi phạm là họ đuổi khỏi Nhật Bản. Họ quy định rất mạch lạc như vậy. Đó chính là quản lý nhà nước của họ".

Cũng theo ông Khải, vấn đề rất cần phải quan tâm hiện nay là người Việt Nam tham gia các hội ở nước ngoài thì có quản lý được không? Người Việt Nam ở nước ngoài tham gia các hội ở Việt Nam thì thế nào?

"Trên thực tế có rất nhiều hội tốt, nhưng cũng có những hội phản động chống phá chế độ, cho nên phải đặt ra vấn đề quản lý", ông Khải nhấn mạnh.

Ngọc Quang

(GDVN)

Con người có đuôi và chính sách lý lịch

                       Ông Albert Speer (thứ hai từ trái sang) là người sát cánh cùng Adolf Hitler

Nước Đức có hai Albert Speer. Cùng nổi tiếng, cùng họ, cùng tên. Hơn nữa chính là cha và con.
Đầu tiên nói về người cha.

Nhắc đến Đế chế Đức phát xít không thể không nhắc đến người bạn đồng hành của thủ lĩnh Quốc xã Adolf Hitler này. Albert Speer cha gia nhập Đảng phát xít ngay từ năm 1931 khi Đảng này còn chưa lên nắm quyền, đồng thời là một trong những người cuối cùng không bỏ Hitler trong bão lửa của đại pháo, xe tăng cùng hai triệu quân Nga đang rùng rùng nghiền nát Berlin tháng 4/1945.

Mô hình khổng lồ về việc thiết kế một Đại Berlin, một Berlin của Germania hùng vĩ cho xứng tầm một cường quốc hùng mạnh đặt chính giữa văn phòng quốc trưởng Đức là sáng tạo của Albert Speer. Những trại tù được thiết kế lại cũng do những đề xuất của Speer...

Về chức vụ Albert Speer cha không chỉ là một kiến trúc sư thông thường. Ông đảm nhận vị trí rất quan trọng về phía Đức trong cuộc Đại chiến thế giới thứ hai - Bộ trưởng Bộ trang bị và cung cấp chiến tranh. Nôm na là nạp đạn từ khẩu tiểu liên MP 40, đến cung cấp thủy lôi cho tầu ngầm, đại bác Krupp, hoàn thiện máy bay, tên lửa.

Bộ máy chiến tranh phát xít vận hành cỗ máy khổng lồ hủy diệt nhân loại nhờ người chăm sóc, tra dầu mỡ Albert Speer tận tụy. Tại toà án Nuremberg 1945, Speer bị kết án 20 năm tù. Bản án khiến nhiều người ngạc nhiên cho đó là quá nhẹ. Bốn năm Đại chiến cỗ máy này giết chết 9 triệu người Đức và 57 triệu binh lính và dân thường tại các nước có chiến sự.

Sau đó Albert Speer bị nhốt ở nhà tù Spandau cẩn mật nhất nước Đức, thuộc phạm vi kiểm soát của Anh phía Tây Berlin cùng với Rudolf Hese. Speer chỉ được tự do vào năm 1966. Không một chút ân xá hay giảm án.

Quyển sách của Albert Speer "Trong trái tim Đế chế thứ ba" có những dòng rất thẳng thắn: "Tôi làm tất cả cho con người vĩ đại chinh phục địa cầu."

Ngay tại Toà án Nuremberg kết tội diệt chủng tướng lĩnh và thành viên quốc xã, Albert Speer đã nói về chuyến viếng thăm ngày 22.4.1945 và tâm tình Hitler bộc bạch sẽ tự tử để không rơi vào tay Nga và mong muốn thân thể sẽ được hoả thiêu.

Speer nói: "Tôi nhận thấy nghĩa vụ của mình lúc đó là không thể đào thoát như một kẻ hèn nhát... ".
Rất nhiều nhân chứng đã viết Hiler tiễn Albert Speer với những giọt lệ trong khoé mắt. Một tuần sau cuộc gặp Albert Speer, Hitler tự tử.

Người dựng kỳ đài

Albert Speer cũng được tặng thưởng Huy chương danh dự với nhành liễu vàng trong trọng trách đứng đầu Đoàn Thanh niên Hitler.

Năm 1937 cũng chính Hitler tự tay trao tặng Biểu tượng vàng của Đảng quốc xã cho Albert Speer.
Nguyên soái Đức phát xít Erhard Milch có viết trong hồi ký thuật lại chính Speer đã nói: "Quốc trưởng (chỉ Hitler) ôm đít tao này này", khi nhận lệnh của thủ lĩnh quốc xã thúc giục đẩy nhanh guồng máy chiến tranh. Văng tục, phạm húy vua mà không bị trảm.

Albert Speer cha chính là người dựng kỳ đài Nuremberg cho Hitler

Albert Speer cha chính là người dựng kỳ đài Nuremberg được mô tả như " Thánh đường của ánh sáng" cho biểu diễu hành lịch sử với 340.000 đảng viên của Đảng quốc xã dễ dàng thấy trong bộ phim tài liệu của Leni Riefenstahl.

Ở ta có Nguyễn Hữu Đang cũng là người dựng kỳ đài ngày Tuyên Ngôn độc lập 2/9 năm 1945. Ông Hồ Chí Minh đã nói: "Việc này khó mới giao cho chú. "

Speer bị người chiến thắng nhốt tù. Nguyễn Hữu Đang thì bị chính đồng chí với mình kết án. Xem ra cái chuyện xây xiếc những cái tương tự chẳng mang phúc.

Nguyễn Hữu Đang tài nhưng hậu vận xấu cũng như Speer. Ai đời xây cái lễ đài cao chót vót cho người ngoài ngẩn cổ ngắm, phận mình về già cúi mặt nhặt vỏ bao thuốc lá để đổi con rắn, con nhái trẻ con kiếm về sống qua ngày.

Không biết khi cái loa truyền thanh treo đầu cành đa vang vang "cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước ..." của Văn Cao, Nguyễn Hữu Đang có rơi nước mắt không?

Lý lịch và hộ khẩu

Kể chuyện người vì muốn nói chuyện ta. Gần đây có chuyện Bùi Kiều Nhi lúc đầu không được nhận vào Học viện Chính trị Công An nhân dân mặc dù thi đạt kết quả 29 điểm cho ba môn. Việt Nam vẫn áp dụng thang điểm 10, khác với nhiều nước châu Âu chấm theo bảng số 20/20.

Kiều Nhi khẩn nài, viết thư lên Bộ Công An hứa hẹn mang tài học phục vụ nước nhà. Báo chí trong nước bàn ra, bàn vào. Cuối cùng cũng đâu vào đấy với chữ "chiếu cố".

Đếm các chuyện kể trên đời, khó chuyện nào tỉ dụ sâu sắc và buồn bã về những luận điểm và chính sách vẫn còn đeo ở Việt Nam như vậy. Chính sách Hộ khẩu có từ thời Tần Thủy Hoàng 210 năm trước Công Nguyên hiện chỉ còn áp dụng tại Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Việt Nam. Chính sách ấy thực chất là buộc chân người dân. Cộng với chính sách lý lịch thì tất cả những câu đại loại "mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc" chỉ là sáo rỗng.

Nếu chỉ vì một "lỗi lầm" của một người cha 20 năm trước, "lỗi lầm" của một người mẹ phải giấu con vì thẹn một cái lý lịch, cái thẳng lưng quá không luồn cửa sau với anh công an hộ tịch để chạy một cái khuyên son như thời phong kiến thì công đèn sách cũng chỉ công cốc. Con sãi ở chùa lại quét lá đa. Đời này con người vẫn còn thích đầy đọa nhau, đẩy nhau vào chốn dối trá, dồn nhau vào cái thấp hèn van xin, khóc lóc?

Chắc người Việt ai chẳng biết Nguyễn Du và thân phận trôi nổi nàng Kiều lầu xanh phiêu bạt 15 năm có lẻ. Có ai làm cha, làm mẹ muốn con phải bán mình chuộc cha trong một xã hội "đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi"? Chẳng có và muôn đời chẳng có. Cái tên Kiều Nhi nhắc điều gì?

                                          Nhiều nước châu Âu có tượng Nữ thần công lý

Một danh tài như Nguyễn Du, chết không khép được mắt, ra đi với câu trăng trối:" Ba trăm năm nữa ai người khóc Tố Như ?". Oan khiên đập vào mắt, nuốt oan trái vào lòng, ra đi gói trọn dăm chữ ấy của danh nhân dân tộc lẽ nào không gợn lên chút suy nghĩ cho những thế hệ này và những thế hệ mai sau ở Việt Nam?

Cái án 9 tháng tù treo của cha em Kiều Nhi - cô Kiều bé nhỏ - có công bằng và thuyết phục? Người Việt vốn hiền, chẳng dẫm vào chân ít ai nổi đoá. Vậy cái tội "chống lại người thi hành công vụ" nguồn căn thế nào ? Ông Đoàn Văn Vươn kháng cự lại những cảnh sát, công an cưỡng chế là do đâu? Nguồn sống bị chặn, đường ra không có, không khơi sông, cấm chợ dân sống làm sao?

Một trong những người chịu trách nhiệm phá án lại là em ruột của tội đồ Dương Trí Dũng, kẻ hiện còn thụ án tột khung vì ăn cắp tài sản đất nước. Ông em vừa lên chức sau vụ Đoàn Văn Vươn lại bị lọt lon, vào tù nhanh như đi thang máy vì bất chấp pháp luật, bất chấp lệnh truy nã cố tình giúp anh đào tẩu.

Biểu tượng Thần công lý là người phụ nữ bịt mắt với cái cân dùng đo việc đời không theo cái tình mà quên phép nước ai mà tin? Chính những người cộng sản đã dùng hình tượng "tức nước vỡ bờ" cho phong trào đấu tranh chống thực dân của dân tộc Việt Nam.

Vậy cái thang nấc về lý lịch, loại bỏ đến nhiều loại người trong xã hội không được học các trường Đại học lớn, không được ra nước ngoài…chẳng khác dành sẵn mỗi người một cũi cùng với tờ khai sinh.

Biết rằng chỉ người tài mới dùng được người tài. Song đến bây giờ cứ tù mù thế, bao giờ mới khá. Vẫn chỉ là chọn cái tròn trĩnh, cái cúi đầu, cái ngậm miệng, cái bè, cái đảng. Đến khi nào mới hình thành cơ chế xét chọn bình đẳng, biết dùng người tài để thay đổi đất nước, để mà hé ra cạnh tranh với đời. Để câu truyền miệng trong dân "Thằng khôn thì đã vượt biên, chỉ còn một lũ vừa điên vừa khùng" chỉ còn thoảng một nụ cười thời xa vắng.

Albert Speer con

Ấy "vòng trần ai, ai dễ biết ai" ở cái trời Tây này không rắc rối lắm.

Albert Speer con sinh năm 1934. Ông đoạt giải kiến trúc Quốc tế 1964, nghĩa là trong khi người cha tai tiếng còn đang ở trong tù. Ông dạy tại Đại Học kiến trúc Kaiserlautern.

Tôi biết một gia đình. Họ là thế hệ thứ nhất sang lập nghiệp ở Pháp. Người cha sang từ một đất nước cộng sản, nói ngôn ngữ Moliere như lột da. Nhưng con gái ông học rất giỏi, được tự chọn trường, phần chỉ dành cho những em đứng số 1, số 2 và số 3 trong trường. Em đã chọn vào trường Condorcet, nơi có những học sinh được biết đến như vua Bảo Đại, Tổng thống Paul Doumer và rất nhiều tên tuổi nổi danh nước Pháp. Chưa thi hết lớp cuối em đã đỗ kỳ thi năng khiếu của 3 trường Kiến Trúc và đang theo học một trong những trường Đại học này. Mấy ông Tây bà đầm chẳng có câu nào hỏi bố mày làm gì. "Đời cua, cua máy. Đời cáy, cáy đào". Rõ thế.

Và bây giờ hãy nói về thế hệ Albert Speer con.

Albert Speer con sinh năm 1934. Ông đoạt giải kiến trúc Quốc tế 1964, nghĩa là trong khi người cha tai tiếng còn đang ở trong tù. Ông dạy tại Đại Học kiến trúc Kaiserlautern. Nhà mình thế này chắc phán: "Rau nào sâu ấy. Cho nó gõ đầu trẻ thì trao nó quyền làm bố, làm mẹ dạy dỗ con cái chúng tôi theo con đường phản dân hại nước của thằng cha nó à?"

Hội Chợ quốc tế được tổ chức tại Đức năm 2000 là đồ án của Albert Speer con. Hội chợ này có lịch sử từ thế kỷ 19 ở Anh năm 1851 lần đó khai truơng tại Hanover ngay sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Hội chợ mở đầu thiên niên kỷ mới với tiêu chí Eine Neue Welt entsteht, tạm dịch là Một thế giới mới xuất hiện đi cùng với khẩu hiệu hiền lành Con người - Thiên nhiên - Kỹ thuật. Ông cũng được gọi trong các công trình hoành tráng và có uy tín trong kiến trúc như Cite international Shanghai, Thế Vận hội Bắc Kinh.

Ông còn đang hoàn thiện hồ sơ thiết kế cho đồ án khổng lồ chuẩn bị cho thành phố Munchen đăng cai Thế vận hội mùa đông năm 2018. Nước của bà Merkel như thế. Ngay mấy nước nạn nhân phát xít cũng chẳng ai làm cái chuyện "chu di tam tộc", kêu tẩy chay cái ông Albert Speer không đổi cả họ để tránh bị ném đá.

'Tượng vàng Thánh Gióng'

Khi Đài truyền hình Việt Nam còn vinh danh 179 cá nhân, chiến sĩ thi đua, tập thể tiên tiến năm 2015 tôi đọc thấy những dòng được viết ghi lại nguyên văn trên báo Lao Động:

Nhưng tôi thích Kiều Nhi lên nẫng giải thưởng Con ngựa vàng Phù Đổng từ tay Phan Bá Huỳnh

"Họ là những tấm gương thực sự tỏa sáng, có sức lan tỏa sâu rộng với xã hội, xứng đáng là những tập thể, cá nhân được nhân dân, đất nước ghi nhận và có sức lan tỏa lớn."

Băn khoăn thấy cái tên thầy cúng Phan Bá Huỳnh "lan tỏa" và được nhận "tượng vàng Thánh Gióng" trong chương trình "Vinh quang Việt Nam" trong cái năm kỷ niệm 70 năm đất nước ra đời. Đây lại là chương trình do Hội khoa học lịch sử, báo Công an Nhân dân, báo Đại Đoàn kết, Công ty hữu nghị Á Châu và cả báo An Ninh...Nghĩa là phối hợp chặt chẽ, không thể xổng và sai sót.

Chuyện 20 năm trước bố Kiều Nhi còn được rà soát kỹ thế thì chắc những ngôi sao sáng loà mang lên sàn quay lung linh gắn cho chữ Vinh để thiên hạ hãi hãi, nể nể chắc phải kiểm tra quá khứ dám ba đời. Không biết Phan Bá Huỳnh có dây mơ, rễ má với lãnh tụ khởi nghĩa nông dân thời Minh Mạng Phan Bá Vành hay không? Tự an ủi, bây giờ nước mình có người nối nghiệp Cao Biền.

                     Tuổi trẻ Việt Nam vẫn gặp phải chủ nghĩa lý lịch 'đóng cũi' tương lai của họ

Nhưng tôi thích Kiều Nhi lên nẫng giải thưởng Con ngựa vàng Phù Đổng từ tay Phan Bá Huỳnh. Tuổi em với tài năng, sức học ấy, mơ màng biết đâu em thổi vào con ngựa lóng lánh vẩy vàng, vẩy bạc cái hồn, cái vía chú bé lên ba xa xưa vùng dậy đòi mẹ cho đi đánh giặc. Ít ra cũng duy vật biện chứng.

Còn đưa cho Bá Huỳnh mang về Đắc Lắc thỉnh chuông hơi âm dương. Trao ngựa vàng vào tay ông "chập chập, cheng cheng con gà sống thiến để riêng cho thầy" mà 10 năm qua nước mình không ai sợ cũng là "nhẫn" thật. Nhẫn nhục, nhẫn nại, nhẫn tâm, chọn chữ nào?

Hưng suy, tươi héo, đầy vơi, chìm nổi, thắng thua của một đất nước đều do những con người chèo chống.

Quang Trung nói: "Cho nước ta thái bình, dân giàu nước mạnh thì 10 năm nữa ta sợ gì nó." Chữ nó ở đây chỉ nước Tàu. Đất nước đã có hơn 40 năm hoà bình, bốn lần hơn con số 10. Cần làm gì nữa đây để được thỏa lòng người anh hùng "mà nay áo vải, cờ đào. Giúp dân xây dựng biết bao công trình."?
Đất nước gần nửa thế kỷ còn loay hoay chưa tìm ra lời giải "tiền đồ" thì học nước người cũng chẳng hổ thẹn gì.

Victor Hugo nói: "Tôi lớn vì tôi biết đứng lên vai một người khổng lồ." Cứ "thấy ai ai ta cũng ai ai, ai ai ấy thì ta cũng ấy" biết đâu lại hay. Lúc ấy chắc sẽ không có người mẹ phải giấu con về lý lịch của cha và không có những giọt nước mắt của một cô Kiều bé bỏng.


Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân và cách hành văn riêng của ông Phạm Cao Phong từ Paris, Pháp.

(BBC)

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

Cánh Cò - Cái giá của lương thiện giả vờ.

Đã từ lâu, cả nước biết các công bộc của dân tuy lương không đủ ăn nhưng nhà cửa tài sản lại không chỗ chứa. Điều nghịch lý này chỉ khó hiểu đối với người dân chất phác nhưng đối với người nhanh nhạy làm ăn hay theo dõi thời sự thì không khó nhận ra: tất cả đều đến từ tham nhũng.

Lớn tham nhũng lớn còn nhỏ tham nhũng nhỏ. Ngay một anh dân phòng cũng tham nhũng được thì nói chi tới công an, chủ tịch hay bí thư lớn bé?

Kết quả hình ảnh cho tham nhũngĐọc báo thấy nhà nước cứ theo đuôi Trung Quốc, cho họ thắng thầu hết gói này tới gói nọ, hết công trình lớn tới công trình nhỏ. Hầu như công ty Trung Quốc có mặt khắp chốn Việt Nam. Có người thở dài cho là Hội nghị Thành Đô vẫn còn tác dụng, có người lại nói Việt Nam sợ chiến tranh, trót hứa hẹn rồi nên nay phải cưỡi cọp leo xuống thì bị nó vồ. Cũng có các chuyên gia nóng mặt chỉ ra nguyên nhân tại sao các cấp lớn nhỏ đều quỵ lụy Trung Quốc không phải bất cứ lý do nào vừa nêu nhưng chung quy bởi Trung Quốc biết hối lộ và sự hối lộ đã thành truyền thống của bất cứ nhà thầu nào.

Còn Việt Nam thì cũng có…nhu cầu ăn hối lộ, do đó bánh ít đi bánh quy lại là điều dễ hiểu xưa nay.

Hối lộ lớn, nghiêm trọng xảy ra phổ biến nhất là từ các gói ODA và nhà thầu. Chính phủ toàn quyền mở thầu và hầu như gói thầu nào cũng đã biết trước người thắng cuộc. Họa hoằn lắm mới có những gói thầu được các công ty uy tín Nhật, Mỹ hay EU thắng và chắc chắn một điều khi người thắng không phải là nhà thầu Trung Quốc thì người thua là …nhà nước Việt Nam.

Số tiền lại quả theo các chuyên gia uy tín tính toán thường là không dưới 30% cho người đứng sau các gói thầu. Nhà thầu chấp nhận trả lại quả cao như vậy vì họ biết rằng sau đó có thể điều chỉnh giá mà không gặp trở ngại nào bởi lẽ người ký tờ giấy cho phép thầu cũng sẽ là người ký tiếp những loại giấy tờ khác.

Vòng tròn làm ăn ấy được bảo vệ kín mít như luật im lặng của mafia. Nếu không may lộ ra bên ngoài thì kỹ thuật che chắn thường giống nhau như hy sinh tốt thí nào đó để một thời gian thì mọi chuyện bị chôn vào quên lãng.

Người dân có thể trầm trồ khi thấy gia đình Thủ tướng giàu có vượt bậc mà không cần tìm hiểu sâu hơn mặc dù manh nha biết được với số lương ơi hỡi của ông Thủ tướng thì không cách gì giúp cho gia đình ông vượt ngưỡng “nghèo” một cách ngoạn mục như vậy.

Các ông khác xếp hàng theo chân Thủ tướng và mọi sự như “tiền định” Bộ chính trị đã quyết mỗi anh giàu một cách, mỗi anh hùng cứ một lĩnh vực miễn sao cùng dắt tay nhau thật chặt, đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết như lời bác Hồ dạy.

Cho tới ngày Mỹ chấp nhận dẫn độ một trùm tham nhũng Trung Quốc trở về Bắc Kinh đi thì hình như đã làm sợi dây đoàn kết ràng buộc ít nhiều nới ra, nới có nghĩa là đã rúng động tận trung tâm quyền lực của Đảng cộng sản Việt Nam. Không có gì không thể và một lúc nào đó những cán bộ giàu có hôm nay sẽ bị dẫn độ, trục xuất trở lại Việt Nam như Dương Tiến Quân của Trung Quốc vào ngày 20 tháng 9 này.

Dương Tiến Quân là cựu giám đốc công ty Minghe ở Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang, miền đông Trung Quốc. Ông bị truy nã vì tội "đưa hối lộ" và "tham nhũng".

Dương đã trốn sang Mỹ từ năm 2001 và sống ở đây 14 năm. Ông này đứng đầu danh sách 100 nghi phạm tham nhũng đã bỏ trốn ra nước ngoài đang bị Bắc Kinh truy nã.

Đừng vội cho rằng Trung Quốc và Việt Nam hoàn toàn khác nhau vì Mỹ sẽ không bao giờ dẫn độ một cán bộ tham nhũng trở về Việt Nam đâu mà mơ. Dĩ nhiên rồi, Việt Nam không có vụ đả hổ diệt ruồi. Việt Nam làm ăn chia chác chặt chẽ và rất tôn trọng luật im lặng. Trong trường hợp hiện nay thì đúng nhưng ở thì tương lai thì lại sai hoàn toàn.

Hãy nghĩ tới kịch bản Việt Nam thay đổi chế độ (vì cộng sản chắc chắn sẽ không vĩnh viễn làm mưa làm gió mãi tại Việt Nam) khi một thể chế mới nắm quyền, kể cả phe này trong đảng chiến thắng phe kia, thì sẽ có cuộc bỏ chạy của cán bộ sang nước ngoài trước đó một thời gian ngắn. Đích tới là Mỹ và các nước EU nơi cán bộ hiện nay đã cài cắm tiền bạc, người thân của họ từ lâu.

Tuy nhiên khác với những cuộc tị nạn chính trị trước đây 4 thập niên, lúc ấy lo rằng không có cánh cửa nào mở ra cho họ, ngoại trừ những anh chàng lém lỉnh thấy trước tương lai u tối của đảng mà đã núp sâu trong những vùng đất hứa này.

Núp sâu cỡ nào rồi cũng phải chường ra, bởi FBI lúc ấy sẽ đặt hồ sơ của những thành phần này lên bàn và biện pháp trục xuất chúng về Việt Nam theo yêu cầu của chính quyền mới không phải là không thể.

Họ phải bị mang về Việt Nam trả lời nguồn tiền của họ đã móc được từ đâu. Những ai là đồng bọn và tài sản nào còn che dấu. Chính quyền mới lúc ấy đủ chính danh để làm những công việc bình thường của một quốc gia độc lập và lúc ấy không khó lắm để thấy tương lai của những kẻ đang nhởn nhơ tại nước ngoài với những bó đô la bất chính hiện nay.

Thấy người mà ngẫm đến ta là câu mà ông bà luôn luôn đúng. Tuy vậy chỉ ngẫm mà không làm thì hậu quả cũng sẽ khó lòng khác với Dương Tiến Quân.

Mà làm gì được bây giờ khi tay đã trót nhúng chàm quá lâu, quá sâu. Màu chàm đã ăn vào tới óc thì làm sao che dấu? Ngay cả khi sang tới Mỹ người ta vẫn thấy lóng lánh màu chàm trên từng viên hột xoàn bóng lưỡng. Thói tật con người là không thể giữ được yên lặng mà phải khoe của, cho dù là của nả bất chính. Đồng tiền chiếm đoạt từ xương máu tiền nhân khiến kẻ sở hữu nó mù quáng và chủ quan. Ngay cả cái chết trước mắt họ cũng khó kềm hãm lòng hưng phấn trước những xấp đô la quá dày trong tủ.

Có bao nhiêu con cháu cán bộ mang tiền hối lộ sang Mỹ? Có bao nhiêu kẻ lận lưng hàng triệu đô la chạy sang đây như những kẻ làm ăn lương thiện?

Sự lương thiện giả vờ ấy khó lòng che mắt được người dân, nhất là những người Việt tha hương khắp thế giới bởi vì họ quá kinh nghiệm trên đường chạy trốn lịch sử. Lương thiện trên đồng vốn bất lương thì làm sao tồn tại?

Cánh Cò Blog

(RFA)